Pattern Recognition - Nearest neighbor algorithm


Giải thuật người hàng xóm gần nhất trong nhận dạng mẫu là một phương pháp để phân loại các hiện tượng dựa trên các đặc trưng quan sát được.
Trong giải thuật, mỗi đặc trưng được gán cho một chiều để tạo thành một không gian đặc trưng đa chiều. Một tập huấn luyện các đối tượng với lớp (class) đã biết trước (đã phân loại sẵn) sẽ được xử lí bằng cách trích rút đặc trưng (lấy ra một số đặc trưng) và được biểu diễn (vẽ sơ đồ) vào trong không gian đặc trưng đa chiều đó. Khoảng cách đến gốc (offset) trong mỗi chiều được xem là vec-tơ đặc trưng . Đây là giai đoạn huấn luyện hay học. Vì động cơ có thể được huấn luyện lại để phân loại nhiều hiện tượng khác nhau, nhận dạng mẫu là một phần của ngành học máy.
Giai đoạn kiểm tra bắt đầu với các hiện tượng (phenomena) cần phân loại (lớp của từng hiện tượng chưa được biết trước) và trích rút ra cùng tập các đặc trưng như với tập huấn luyện. Khoảng cách hình học được tính toán giữa vec-tơ đặc trưng mới với mỗi vec-tơ đặc trưng có sẵn từ tập huấn luyện. Khoảng cách ngắn nhất tính toán được, đến vec-tơ đặc trưng trong tập huấn luyện, chính là họ hàng gần nhất. Và lớp (loại) biết trướccủa họ hàng gần nhất đó sẽ cũng là lớp của hiện tượng mà ta đang cần phân loại.
Hiển nhiên, giải thuật này sẽ đòi hỏi cường độ tính toán cao khi tập huấn luyên trở nên lớn. Nhiều sự tối ưu đã và đang được đưa ra, chúng chủ yếu tìm kiếm nhằm giảm số lượng khoảng cách được thực sự tính toán. Một số tối ưu bao gồm phân hoạch không gian đặc trưng, và chỉ tính các khoảng cách với các vec-tơ thuộc một vùng lân cận cụ thể nào đó.
Một số biến thể khác của giải thuật bao gồm giải thuật k hàng xóm gần nhất với k vec-tơ đặc trưng gần nhất sẽ được tính toán, và việc phân loại sẽ dựa vào độ tin cậy cao nhất chỉ khi mọi mọi hàng xóm gần nhất đó nều cùng thuộc một loại (lớp).
Người hàng xóm gần nhất cho ra một số kết quả ổn định vững chắc. Vì số lượng dữ liệu tiếp cận được xem là vô hạn, người hàng xóm gần nhất đảm bảo cho ra tỉ lệ lỗi không vượt quá hai lầntỉ lệ lỗi Bayes (là tỉ lệ lỗi đạt được tối thiểu khi biết sự phân bố dữ liệu). k-người hàng xóm gần nhất được đảm bảo là sẽ tiến tới tỉ lệ lỗi Bayes, với một giá trị nào đó của k.

Nguồn http://vi.wikipedia.org

Phương pháp Bảo vệ đường dây truyền tải ở Bắc Mỹ

Hinh1. HQT chịu sự điều tiết của nhiều cơ quan
Lưới điện truyền tải của Hydro Quebec
Công ty Hydro Quebec TransEnergie (HQT) vận hành một hệ thống truyền tải rất lớn ở Bắc Mỹ, bao gồm 32.826 km đường dây điện áp từ 765 kV tới 69 kV và thấp hơn, cung cấp điện năng tin cậy từ 508 trạm biến áp truyền tải và 18 mạch liên kết tới các khách hàng trong tỉnh Quebec (Canada) và nhiều vùng khác ở Canada và Mỹ. Các đường dây dài, vươn xa trên 1.000 km, cung cấp điện năng tới các hộ tiêu thụ trên phạm vi lãnh thổ rộng tới 850.000 km2 (gấp hơn 2,5 lần diện tích nước Việt Nam). Phụ tải đỉnh mùa đông năm 2007 lên tới 36.251 MW. Gần 96% công suất lắp đặt của hệ thống là từ thuỷ điện (54 nhà máy thuỷ điện). Để bù lại ảnh hưởng của khoảng cách giữa các công trình nguồn và các trung tâm phụ tải, đồng thời duy trì độ tin cậy và an toàn hệ thống điện, HQT lắp tụ bù nối tiếp trên nhiều đường dây chiến lược 735 kV. Hiện nay, HQT áp dụng nhiều phương thức bù công suất phản kháng khác nhau nhằm khống chế điện áp và sử dụng mạch điện siêu cao áp một chiều nhiều đấu nối dài 1.200 km, liên kết vùng Bắc tỉnh Quebec với vùng Đông Bắc nước Mỹ.

National Energy Board: Bộ Năng lượng Canada; Sở năng lượng tỉnh Quebec: REQ; Hội đồng đảm bảo độ tin cậy điện Bắc Mỹ: NERC; Hội đồng Điều phối Điện năng vùng Bông Bắc
HQT chịu sự điều tiết của nhiều cơ quan
Là đơn vị chuyên tải điện năng, HQT phải đáp ứng mọi yêu cầu điều tiết theo Hội đồng đảm bảo độ tin cậy điện Bắc Mỹ (North American Electric Reliability Council - NERC) và Hội đồng Điều phối điện năng vùng Đông Bắc (Northeast Power Coordinating Council – NPCC). NERC đặt ra các chỉ tiêu vận hành và lập kế hoạch nhằm đảm bảo vận hành hệ thống điện tin cậy. Mặt khác, NPCC (Hydro Quebec là thành viên) qui định các tiêu chí về độ tin cậy đối với tất cả các hệ thống điện trong vùng Đông Bắc. HQT điều phối các hoạt động của mình với Sở năng lượng tỉnh Quebec (REQ) là cơ quan qui định và hiệu chỉnh phí và điều kiện truyền tải, cho phép mua bán, xây dựng hoặc thanh lý các công trình truyền tải và xem xét các khiếu nại của khách hàng liên quan đến việc áp dụng biểu giá truyền tải.
Phương pháp bảo vệ đường dây truyền tải của HQT
HQT sử dụng các sơ đồ bảo vệ rơle với độ dư thừa để nâng cao độ tin cậy, nâng cao độ khả dụng của hệ thống bảo vệ và dựa vào các tiêu chí của NPCC để đảm bảo các hệ thống bảo vệ được thiết kế với tính năng cao về độ tin tưởng và an ninh. Ở đây ta hiểu độ tin tưởng (dependability) là xác suất để hệ thống bảo vệ tác động đúng khi yêu cầu phải tác động; còn an ninh (security) là xác suất để hệ thống bảo vệ không tác động khi không được yêu cầu tác động. Về độ dư thừa lắp đặt (redundancy), HQT tập trung đặc biệt vào yêu cầu đơn giản, linh hoạt trong vận hành và bảo trì. Linh hoạt trong vận hành rất có lợi cho công tác bảo trì bởi vì nó cho phép duy trì dây vận hành trong khi một bộ thiết bị bảo vệ dư thừa được đưa ra khỏi vận hành.
Các qui tắc
 Mỗi đường dây truyền tải được trang bị hai hệ thống bảo vệ đường dây độc lập có khả năng giải trừ mọi sự cố trong thời gian ngắn nhất thực tiễn cho phép, có chú trọng thích đáng tới độ chọn lọc, độ tin tưởng và độ an ninh. Hài hoà giữa tổng thời gian giải trừ của mỗi hệ thống bảo vệ với biên ổn định của mạng điện.
 Mỗi hệ thống bảo vệ không gây ra sự hạn chế về mức tải và cũng không chịu sự tác động của các biến động ổn định của hệ thống.
 Mỗi thành phần của hệ thống bảo vệ, kể cả cáp điều khiển và dây nối, phải tách rời nhau về vật lý nhằm giảm thiểu rủi ro cả hai hệ thống, đồng thời mất tác dụng do cháy hoặc sự cố.
 Mỗi hệ thống bảo vệ “Hệ 1” và “Hệ 2” được bố trí trong tủ riêng và được cấp nguồn từ các cuộn thứ cấp của các máy biến dòng và máy biến điện áp riêng biệt.
 Các kênh truyền thông và các thiết bị liên quan của cả hai hệ thống bảo vệ này được tách rời nhau về mặt vật lý để giảm thiểu rủi ro cả hai hệ thống đồng thời mất tác dụng chỉ vì một sự kiện hoặc điều kiện duy nhất. Vào đầu thập kỷ 1990, người ta sử dụng hai tuyến truyền thông khác nhau trên tuyến vi ba analog trực tiếp từ đầu nọ đến đầu kia giữa hai trạm biến áp và một tuyến vòng lặp qua các trạm biến áp khác nhau trước khi tới điểm đến cuối cùng. Giờ đây, HQT đã chuyển phần lớn các phương tiện truyền thông analog vi ba sang rađio vi ba số và đặt cáp quang để phát huy tốt hơn các công nghệ này. Với việc sử dụng cáp quang, có thể thực hiện việc tách rời về mặt vật lý tuyến viễn thông cho cả hai hệ thống bảo vệ. Tuy nhiên nếu chẳng may cột rađio vi ba bị đổ thì cũng không tránh khỏi chế độ sự cố đồng thời.
 Nguồn điện xoay chiều phục vụ hai trạm được cung cấp tại mỗi trạm biến áp có khả năng mang mọi phụ tải quan trọng gắn liền với các hệ thống bảo vệ.
 Mỗi hệ thống bảo vệ được cung cấp từ nguồn điện một chiều riêng rẽ và bộ nạp để đảm bảo vận hành tốt trong trường hợp mất một nguồn điện một chiều.
 Tất cả các máy cắt dùng trong hệ thống siêu cao áp (EHV) và điện áp cực cao (UHV) đều có hai cuộn cắt, và mỗi hệ thống bảo vệ độc lập đều có thể tác động cắt tới cả hai cuộn cắt của máy cắt.
Vấn đề bảo vệ dự phòng
Thuật ngữ “dự phòng” thường được xét theo quan điểm có lợi cho độ tin tưởng (dependability) nhưng lại phương hại tới độ an ninh (security) trong trường hợp bảo vệ sơ cấp tác động sai. Trong thực tế, có nhiều sự kiện có thể khiến máy cắt và các thiết bị liên quan không phải lúc nào cũng tác động chính xác và nói chung, cần phải áp dụng một số biện pháp khắc phục nhằm cách ly được sự cố khỏi hệ thống. Dự phòng được coi là cơ cấu tác động độc lập trong một khoảng thời gian trễ nào đó hài hoà với các chức năng bảo vệ quan trọng có liên quan.
Bảo vệ chính và bảo vệ dự phòng đôi khi có thể được bố trí trong một trạm biến áp khác (bảo vệ dự phòng từ xa) hoặc trong cùng một trạm biến áp (bảo vệ dự phòng tại chỗ). Trường hợp bảo vệ dự phòng tại chỗ, cần đặc biệt cân nhắc giữa bảo vệ dự phòng tại chỗ trạm biến áp và bảo vệ dự phòng tại chỗ mạch điện.
Bảo vệ dự phòng từ xa
Bảo vệ dự phòng từ xa hoàn toàn độc lập với các thiết bị bảo vệ tại chỗ chính, bao gồm các máy biến dòng và máy biến điện áp liên quan, hệ thống nguồn điện một chiều tự dùng và các máy cắt điện. Nói chung, bảo vệ dự phòng từ xa bị hạn chế ở mức độ nào đó và đòi hỏi phải cân nhắc đặc biệt về chiến lược vận hành của hệ thống. Độ chọn lọc bảo vệ, độ nhạy và tốc độ là một số yếu tố bổ sung cần cân nhắc khi sử dụng bảo vệ dự phòng từ xa.
Bảo vệ dự phòng tại chỗ
Bảo vệ dự phòng tại chỗ được áp dụng tại trạm biến áp tại chỗ để tác động nhảy máy cắt trong trường hợp bảo vệ sơ cấp không tác động. Nếu các rơle sơ cấp bị hỏng, bảo vệ dự phòng tại chỗ sẽ tác động nhảy máy cắt tại chỗ. Dự phòng tại chỗ có thời gian giải trừ nhanh hơn so với dự phòng từ xa và giới hạn việc nhảy máy cắt chỉ ở tại một vị trí. Bảo vệ sự cố máy cắt được kích hoạt ngay tại chỗ nếu máy cắt không tác động. Dự phòng tại chỗ được phân chia thành hai nhóm: Bảo vệ dự phòng tại chỗ trạm biến áp và bảo vệ dự phòng tại chỗ mạch điện.
Bảo vệ dự phòng tại chỗ trạm biến áp
Mặc dầu được cung cấp từ cùng một nguồn điện một chiều trong trạm biến áp, nhưng dạng bảo vệ dự phòng tại chỗ này tương tự với bảo vệ dự phòng từ xa ở chỗ nó độc lập với các thiết bị bảo vệ sơ cấp, bao gồm các máy biến dòng, máy biến điện áp và các thiết bị tác động nhảy phụ trợ khác. Bảo vệ dự phòng tại chỗ cho phép bảo vệ sự cố các xuất tuyến đường dây truyền tải với một số hạn chế nhất định trong các mạng điện lưới bao gồm các đường dây ngắn, trung bình và dài.
Bảo vệ dự phòng tại chỗ mạch điện
Do những hạn chế trong bảo vệ dự phòng từ xa, bảo vệ dự phòng tại chỗ mạch điện hoạt động theo các nguyên lý khác hoặc không chịu ảnh hưởng của những điều kiện giống như đối với các thiết bị bảo vệ sơ cấp, có thể đóng vai trò thuận lợi trong việc bảo vệ các đường dây truyền tải. Cụ thể các đường dây truyền tải 735 kV bù nối tiếp của HQT có các sơ đồ phụ thuộc vào truyền thông (communication dependent) trong các thiết bị bảo vệ Hệ 1 và Hệ 2. Trường hợp này, điều quan trọng là phải giả định một sơ đồ bảo vệ dự phòng tại chỗ mạch điện không phụ thuộc vào truyền thông theo một nguyên lý khác. Khi đó, sơ đồ bảo vệ dựa trên phép đo trở kháng sẽ là một bảo vệ dự phòng tại chỗ mạch điện thực sự lý tưởng.
Bảo vệ sự cố máy cắt
Hiện nay HQT sử dụng một số sơ đồ độc lập bảo vệ sự cố máy cắt. Đây được coi là một phần của sơ đồ bảo vệ dự phòng tại chỗ. Bảo vệ sự cố máy cắt tác động nhảy các máy cắt liền kề khi máy cắt chính không cắt dòng điện sự cố. Từng hệ thống rơle dư thừa kích hoạt một cách độc lập chức năng sự cố máy cắt khi cần thiết. Nói chung người ta thường sử dụng logic sự cố máy cắt dựa vào việc phát hiện quá dòng, nhưng trong một số trường hợp, chức năng này cũng được các tiếp điểm phụ của máy cắt thực hiện.
Các đường dây truyền tải bù nối tiếp của HQT
Từ đầu thập kỷ 1990, HQT đã cho lắp các tụ nối tiếp trên hệ thống truyền tải 735 kV, chủ yếu để tăng khả năng truyền tải và nâng cao độ ổn định hệ thống. Lưới truyền tải này rất quan trọng trong việc đưa điện năng đi xa bởi nhà máy điện nằm cách xa các trung tâm phụ tải hàng 1.000 km.
Dựa trên các nghiên cứu toàn diện về hệ thống, người ta chỉ lắp các tụ nối tiếp tại một đầu đường dây và tại một số vị trí ở giữa đường dây truyền tải. Mức bù dao động trong khoảng từ 20 đến 44% trở kháng đường dây truyền tải. Những vấn đề chung hết sức quan trọng cần được cân nhắc là lựa chọn đúng đắn các rơle, logic, chế độ đặt và thử nghiệm sao cho đạt được tính năng bảo vệ thích hợp. Đã xác định được rằng thử nghiệm mô phỏng quá độ là phương pháp hiệu quả nhất để nghiên cứu tất cả các vấn đề phức tạp có quan hệ với đầu vào yếu, các thành phần sóng hài và dưới sóng hài (subharmonic), dạng sóng dòng điện sự cố xếp chồng, dao động dòng điện tần số thấp. Ảnh hưởng của trở kháng hỗ cảm thứ tự 0 của các đường dây song song, đảo chiều dòng và điện áp, đóng cắt cuộn kháng sun và đóng điện lặp lại đường dây là những vấn đề cần xem xét.
Dòng điện ngắn mạch cũng chịu ảnh hưởng của tụ nối tiếp. Để bảo vệ tụ điện trong thời gian dòng điện ngắn mạch ở mức cao, tụ điện nối tiếp được bảo vệ bằng khe hở không khí, điện trở phi tuyến oxit kim loại (metal oxide varistor – MOV), thiết bị hạn chế dòng, và cầu dao mạch vòng. Mỗi khi khe hở không khí tác động hoặc MOV dẫn điện đều dẫn tới xuất hiện các quá độ và mất cân bằng cần phải xem xét để đảm bảo sơ đồ bảo vệ đường dây không bị tác động bất lợi.
Các vấn đề liên quan tới đường dây bù nối tiếp
Tác động của bù nối tiếp lên bảo vệ khoảng cách đường dây truyền tải phụ thuộc vào vị trí đặt tụ nối tiếp, mức độ bù, cấu hình mạng điện, và các tham số đường dây. Tác động thường gặp nhất của tụ nối tiếp là đảo chiều điện áp. Vì vậy điều đặc biệt thiết yếu là bảo vệ đường dây sử dụng điện áp phân cực hoặc điện áp được ghi nhớ trong việc xác định hướng sự cố trên các đường dây có bù nối tiếp.
Hình 3 nêu trường hợp điển hình về đảo chiều điện áp tại thanh cái L, giả định sự cố ba pha với XC<XL. Đảo chiều dòng điện cũng có thể xảy ra trên mạng bù nối tiếp. Điều này xảy ra khi trở kháng từ điểm sự cố tới và bao gồm cả trở kháng nguồn mang tính dung kháng ròng. Hình 2 minh hoạ điều kiện để có đảo chiều dòng điện. Tuy nhiên trong thời gian nghiên cứu mô phỏng phân tích mạng lưới truyền tải (transmission network analysis – TNA) tại Viện nghiên cứu Hydro Quebec (IREQ), đã không quan sát được hiện tượng đảo chiều dòng điện do mức bù nối tiếp cộng với việc bố trí chống sét bảo vệ ZnO qua các tụ nối tiếp.
Hình 2. Đường dây truyền tải có bù nối tiếp - Đảo chiều dòng điện
Hình 3. Đường dây truyền tải bù nối tiếp - Đảo chiều điện áp
Tiêu chí của hệ thống truyền tải bù nối tiếp của HQT
Hệ thống truyền tải bù nối tiếp của HQT phải tuân thủ yêu cầu chặt chẽ về tổng thời gian giải trừ sự cố. Tất cả các máy cắt lắp cho các đường dây này phải có khả năng cách ly trong thời gian từ 33 đến 42 ms. Tất cả các lệnh tác động nhảy máy cắt đều phải là ba pha. Chỉ được phép đóng lặp lại đối với sự cố một pha. Ưu tiên đóng lặp lại trước tiên là các đầu đường dây ở xa các tụ nối tiếp. Mọi sơ đồ bảo vệ và điều khiển đều khoá việc đóng lặp lại tại đầu xa của đường dây khi đóng lặp lại trên sự cố vĩnh cửu.
Lựa chọn rơle
Trong chương trình thử nghiệm TNA toàn diện, người ta lắp nhiều rơle, tuy nhiên chỉ có hai kiểu hệ bảo vệ vượt qua được tất cả các thử nghiệm theo tiêu chí của HQT trong phạm vi khung thời gian của thời gian thử nghiệm. Các rơle trở kháng không dựa vào truyền thông cũng được đánh giá kỹ lưỡng theo tôpô thật của mạng điện bù nối tiếp. Đối với tất cả các rơle, các thông số đặt được đánh giá theo thử nghiệm thời gian thực phù hợp với các ý tưởng thiết kế và đặc tính rơle khác nhau. Người ta nhận thấy rằng đặc tính đơn vị khởi động được sửa đổi của các rơle này cho kết quả tốt và không tác động sai trong thời gian xảy ra tất cả các kiểu sự cố và trong khi đóng cắt bình thường hệ thống. (Xem các Hình 4 và 5).
Hình 4. Tụ nối tiếp lắp đặt tại đầu đường dây
Hình 5. Tụ nối tiếp lắp đặt ở giữa đường dây
Nguyên lý định hướng xếp chồng
Nguyên lý này dựa trên độ lệch điện áp và dòng điện, trong đó số gia trở kháng ΔZ được tính toán dựa trên hiệu véctơ giữa điện áp trong thời gian sự cố VD và điện áp ngay trước khi xảy ra sự cố VA chia cho hiệu véctơ giữa dòng điện trong thời gian sự cố và dòng điện ngay trước khi xảy ra sự cố. Sử dụng các thành phần xếp chồng cho phép rơle xác định rất nhanh hướng của sự cố, thường là trong vòng 4 ms. Kiểu bảo vệ này hoàn toàn phụ thuộc vào truyền thông, với đầu nối xa của đường dây và cho phép tác động nhảy cực nhanh nếu không nhận được tín hiệu khoá từ đầu xa của đường dây. Mức thay đổi quá độ ΔV và ΔI cho một sự cố trên đường dây phía trước khởi nguồn trên chu kỳ dương của dạng sóng sẽ nằm trong góc phần tư thứ II và thứ IV, như thể hiện trên Hình 4. Các thông số đặt xác định đường biên để rơle phát tín hiệu tác động ở chế độ phụ thuộc tới đầu ở xa và khoá việc đóng cắt đường dây bình thường và cuộn kháng sun. (Xem các Hình 6 và 7).
Nguyên lý so lệch dòng điện
Sơ đồ này dựa trên nguyên lý so lệch dòng điện, và đáp ứng phù hợp đặc tính tác động và kiềm chế. Nguyên lý này đã vượt qua được mọi thử nghiệm TNA, kể cả các dao động công suất ổn định và không ổn định. Để vận hành theo sơ đồ này, yêu cầu rất quan trọng là kênh truyền thông phải nguyên vẹn. Nếu sử dụng kênh truyền thông analog thì kênh này phải tin cậy. Các kênh truyền thông cáp quang số đang nhanh chóng thay thế các kênh analog do chúng có tính năng và tốc độ cao. Tuy nhiên, các giao tiếp truyền thông và thời gian trễ lan truyền giữa đầu phát và đầu nhận của đường dây mới là yếu tố quyết định. Kỹ thuật so lệch dòng điện này rất đơn giản và có thể sử dụng cho mọi kiểu đường dây, có bù hoặc không bù, với chiều dài bất kỳ, bởi vì nó không bị ảnh hưởng bởi sự đảo chiều điện áp do sự cố gần các tụ bù và cũng không bị ảnh hưởng bởi phần dòng điện sự cố thấp từ đầu xa của đường dây. Những vấn đề đáng chú ý đối với sơ đồ cụ thể này là chế độ đặt thích hợp, chọn máy biến dòng phù hợp, không đối xứng về kênh-thời gian trễ, bão hoà máy biến dòng và dòng điện cấp.
Nguyên lý so pha
Sơ đồ này phụ thuộc vào kênh truyền thông. Rơle so sánh sóng chữ nhật tại chỗ và sóng chữ nhật từ xa nhận được trên một nửa chu kỳ. Tín hiệu cho phép tác động chỉ được yêu cầu đối với các sự cố nội bộ (xem Hình 8)
Hình 6. Nguyên lý định hướng xếp chồng
Hình 7. Dòng điện và điện áp xếp chồng
Hình 8. Bảo vệ so pha - Điều kiện sự cố nội bộ
Bảo vệ dự phòng đường dây bù nối tiếp
Theo kết quả thử nghiệm phân tích lưới điện truyền tải (TNA), các Hệ 1 và Hệ 2 bảo vệ đường dây bù nối tiếp hoàn toàn phụ thuộc vào các kênh truyền thông, nên cũng còn phải chọn một rơle đo lường trở kháng. Phần tử khởi động điều khiển các phần tử đo, đặc tính của nó được sửa đổi để không nhạy cảm với các dao động phụ tải và công suất. Do chế độ đặt được cân nhắc rất cẩn thận, tất cả các rơle bảo vệ dự phòng dựa trên trở kháng lựa chọn cho các đường dây bù nối tiếp đều rất ổn định trong mọi điều kiện quá độ và các vấn đề bù động nối tiếp của hệ thống.
Qui tắc chung của HQT đối với các đường dây truyền tải điện từ 69 kV tới 735 kV
Các đường dây trên không truyền tải điện phải được bảo vệ chống sự cố chạm pha và chạm đất. Qui tắc hiện nay của HQT là sử dụng hai sơ đồ bảo vệ đường dây (có độ dư thừa) từ các hãng chế tạo khác nhau, và trong một số trường hợp, trang bị thêm sơ đồ dự phòng. Các rơle số được đấu nối để tách rời các cuộn dây của máy biến dòng và các cuộn dây của máy biến điện áp. Khi có thể, các tín hiệu cắt được gửi tới các cuộn cắt riêng rẽ của máy cắt. Phương tiện truyền thông thường là cáp quang hoặc vi ba số. Phương pháp đường dây điện tải ba (PLC) và vi ba rađio analog ít được sử dụng hơn.
Chức năng tự động đóng lặp lại
Phần lớn các sự cố đường dây đều là thoảng qua, do vậy cần phải cắt điện pha bị sự cố và để hồ quang tắt rồi mới phát lệnh đóng lặp lại máy cắt. Đối với hệ thống 735 kV, chỉ tự động đóng lặp lại ba pha khi khởi đầu việc cắt mạch điện là do phát hiện sự cố một pha. Sau đây là một số nguyên tắc được sử dụng, tuỳ thuộc vào những ứng dụng nhất định:
 Dễ dàng thực hiện việc tự động đóng lặp lại một pha bằng phương pháp bảo vệ so lệch đường dây.
 Cũng có thể thực hiện tự động đóng lặp lại một pha bằng phương pháp bảo vệ khoảng cách, với điều kiện sử dụng bốn kênh gia tốc độc lập cho một chức năng bảo vệ đường dây. Logic khẳng định sự có mặt của dòng điện thứ tự 0 tuỳ thuộc vào các tín hiệu gia tốc.
 Đối với các hệ thống truyền tải điện khác, cần phải nghiên cứu hệ thống trước khi ứng dụng tự động đóng lặp lại ba pha hoặc một pha. Trong một số trường hợp đặc biệt, sự cố nhiều pha cũng có thể cho phép tự động đóng lặp lại, với điều kiện hệ thống không bị ảnh hưởng.
Thử nghiệm chức năng các rơle
Thử nghiệm chức năng của các rơle bảo vệ đóng vai trò rất quan trọng nhằm đảm bảo chúng hoạt động tốt khi được lắp đặt tại hiện trường. Các thử nghiệm nêu trong danh mục được coi là những thử nghiệm đặc trưng sử dụng trong quá trình kiểm tra bảo vệ. Việc đưa vào các thử nghiệm chức năng đặc trưng là rất cần thiết để kiểm tra một ứng dụng cụ thể trong hệ thống điện hoặc để kiểm tra một ứng dụng cụ thể dựa trên “bài học kinh nghiệm” trước đây khi rơle tác động một cách không mong muốn sau khi xảy ra nhiễu. Danh mục này được nhân viên thử nghiệm sử dụng để xây dựng chương trình thử nghiệm trên các công cụ như thiết bị mô phỏng “Hypersim” hoặc các thiết bị thử nghiệm tiêu chuẩn khác.
Chiến lược tiến hành thử nghiệm điển hình về chức năng
Đa số các thử nghiệm điển hình về chức năng thực hiện trên các rơle khoảng cách đều dựa trên các rơle riêng lẻ.  Tuy nhiên, một số thử nghiệm được tiến hành theo một sơ đồ bảo vệ hoàn chỉnh bao gồm hai rơle khoảng cách cùng với phương tiện truyền thông. Trong phương pháp truyền thông khác, người ta dùng cáp quang nối hai rơle tương tự, sử dụng công nghệ truyền thông tích hợp bên trong thiết bị bảo vệ.
Danh mục các thử nghiệm chức năng đối với bảo vệ đường dây
Trong quá trình thử nghiệm sự cố nội bộ và bên ngoài, tiến hành đo thời gian đóng và ngắt tiếp điểm đối với tất cả các kiểu sự cố theo loại, khoảng cách. Thay đổi góc pha khi xảy ra sự cố (ví dụ 20 sự cố phân bố trong một chu kỳ, chênh nhau 18o). Các thử nghiệm được thực hiện đối với: Đường dây ngắn; đường dây dài; nguồn mạnh hoặc yếu; các đường dây có hỗ cảm; đường dây bù nối tiếp; các kiểu máy biến dòng và máy biến điện áp; thực hiện các thử nghiệm khác để kiểm tra SOFT; giám sát cầu chảy; sự cố điện trở; sự cố phát triển; đóng lặp lại trên mạch có sự cố vĩnh cửu; logic các chức năng đóng lặp lại; logic “điện yếu”; quá dòng tức thời để kiểm tra tốc độ, độ nhạy, hướng và trễ. Chương trình thử nghiệm còn bao gồm các chức năng sau: đảo chiều dòng điện; logic lấn phụ tải; bão hoà máy biến dòng; sóng hài; sự cố máy cắt; sai lệch pha; dao động công suất; vị trí sự cố; phát hiện quá áp/dưới áp; giám sát dòng điện; thử nghiệm nối đất; thử nghiệm tần số; lập mô hình máy biến điện áp; v.v.
P4.
Theo: KHCN Điện số 4/2009

English Grammar in Use


Tác giả: Raymond Murphy
Phiên bản 2, có đáp án.

https://docs.google.com/file/d/0B5a_JPnxG-thNnhMT0JEWm5mSEU/edit?usp=sharing

Các mạch điện tử căn bản


  
MỤC LỤC
Ch ương 1: M ạch Diode
Ch ương 2: M ạch Phân Cự c Và Khuêch Đại Tín Hiệu Nhỏ Dùng BJT
Ch ương 3: Mạ ch Phân Cự c Và Khuêch Đại Tín Hiệu Nh ỏ Dùng FET
Ch ương 4: Ảnh hưởng của nội trở nguồn tín hiệu và tổng trở tải lên mạch khuếch đại
Ch ương 5: Đáp ứng tần số của BJT và FET
Ch ương 6: Các dạng liên kết của BJT và FET
Ch ương 7: Op-Amp khuếch đại và ứng dụng
Ch ương 8: Mạch khuếch đại hồi tiếp (Feedback Amp)
Ch ương 9: Mạch khuếch đại công suất (Power Amp)
Ch ương 10: Mạch dao động(Oscillators)

Link download:
https://docs.google.com/file/d/0B5a_JPnxG-thN2xnV2pOY0NIdEU/edit?usp=sharing

Tâm Lý Học Nghề Nghiệp



CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ DẠY – HỌC
BÀI 1: TÂM LÝ HỌC VỀ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
I.BẢN CHẤT TÂM LÝ CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
1/ Quá trình dạy học là gì ?
Quá trình dạy học là quá trình giáo viên tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh để đạt được mục đích dạy học
2/ Bản chất tâm lý của quá trình dạy học:
a. Xét về mặt mục đích
Dạy học là quá trình truyền thụ và lĩnh hội những yếu tố tích cực của nền văn hoá xã hội , giúp học sinh tái tạo lại những năng lực bản chất người để giúp học sinh phát triển thành con người thực sự.
Cơ chế xã hội của loài người thông qua dạy học – giáo dục (thi)
b. xét về mặt thực tiễn
Quá trình dạy học chỉ có thể được diễn ra thông qua 2 hoạt động cụ thể sau đây
-         Con đường hoạt động:
·        Người giáo viên đóng vai trò là chủ thể tổ chức và điều khiển hoạt động học
·        Người học sinh đóng vai trò vừa là khách thể vừa là chủ thể của quá trình dạy học
-         Giao lưu: diễn ra giữa giáo viên và học sinh, diễn ra giữa học sinh với nhau
Kết quả phụ thuộc vào thái độ của giáo viên
è Quá trình dạy học thực chất là quá trình tổ chức hoạt động và giao lưu , là sự biến thể hoạt động và giao lưu của con người trong xã hội
II. CÁC QUY LUẬT TÂM LÝ CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
Có 3 quy luật
1/ Quy luật thống nhất giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
Nhận thức cảm tính: Quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bên ngoài , không phải bản chất của sự vật hiện tượng
Nhận thức lý tính: Quá trình nhận thức những thuộc tính bản chất bên trong của sự vật hiện tượng.
è Trong quá trình dạy học: không nên quá coi trọng nhận thức cảm tính, như vậy sẽ lạm dụng phương pháp dạy học trực quan à hạn chế tư duy tích cực của học sinh
Nếu quá coi trọng nhận thức lý tính thì dẫn đến tình trạng lý thuyết suông, xa rời hình ảnh thực tế
2/ Quy luật về sự thống nhất giữa năng lực của giáo viên với sự phát triển năng lực của học sinh
Thông qua quá trình dạy học phải dần hình hình thành được năng lực dành cho học sinh: bao gồm năng lực nhận thức và năng lực hành động
Năng lực của học sinh phụ thuộc vào năng lực của giáo viên
-         Năng lực chuyên môn : có sự hiểu biết sâu sắc về chuyên môn giảng dạy , hiểu biết về thực tiễn cuộc sống, liên quan đến môn học
-         Năng lực sư phạm: đặc biệt là phương pháp giảng dạy bộ môn



3/ Quy luật về sự thống nhất giữa tính tính cực nhận thức với động cơ nhận thức
a. Tính tích cực nhận thức
Thể hiện ở sự tập trung chú ý, chịu khó tìm tòi, động não, suy nghĩ với sự tự giác và hứng thú của bản thân.
Là điều kiện tâm lý rất quan trọng đối với hoạt động dạy của người giáo viên
Đối với học sinh, tính tích cực nhận thức có ý nghĩa quyết định đến  cả chất lượng và thời lượng của tri thức mà học sinh lĩnh hội
Tính tích cực nhận thức của học sinh phụ thuộc động cơ nhận thức tương ứng.
b. Động cơ nhận thức
Động cơ nhận thức được hình thành từ bản thân trong quá trình học tập từ nhu cầu nhận thức của học sinh
-         Động cơ hoàn thiện tri thức: sự khát khao mở rộng kiến thức , mong muốn có nhiều hiểu biết, say mê học tập
-         Động cơ xã hội: học sinh say mê học tập nhưng phụ thuộc vào cái khác bên ngoài đối tượng trực tiếp của hoạt động học

BÀI 2: HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÂM LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG DẠY
I/ KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY
1/ Hoạt động dạy là gì ?
Là hoạt động người giáo viên tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh để giúp học sinh linh hội nền văn hoá xã hội để tạo ra sự phát triển tâm lý và hình thành nhân cách của học sinh
2/ Mục đích của hoạt động dạy
Nhằm giúp thế hệ trẻ lĩnh hội nền văn hoá xã hội để tạo ra sự phát triển tâm lý và hình thành nhân cách cho các em theo yêu cầu của xã hội
Kết quả của hoạt động dạy là tạo ra những tri thức khoa học có hệ thống bài bản, năng lực người ở trình độ cao (Thi)
3/ Xét về mặt thực tiễn
Thông qua 2 con đường
a. Hoạt động dạy của giáo viên
Người giáo viên không sáng tạo ra tri thức mới, không tái tạo kiến thức cho bản thân
Người giáo viên tổ chức quá trình tái tạo tri thức ở học sinh để giúp học sinh phát triển tâm lý, hình thành nhân cách
Hoạt động dạy của giáo viên phải tạo ra tính tích cực trong hoạt động học của học sinh
b. Hoạt động học của học sinh: vừa là khách thể vừa là chủ thể




II/ CÁC YẾU TỐ TÂM LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG DẠY
1/ Thành tố thiết kế (giai đoạn chuẩn bị)
Bắt đầu từ việt thiết kế một bài học cụ thể cả trong lớp, và ngoài lớp, lực chọn tài liệu học tập cho phù hợp với chowng trình và đặc điểm đối tượng học sinh
Chế biến tài liệu chọ phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh
Lựa chọn phương pháp thích hợp với nội dung mà giáo viên mong muốn mang đến cho học sinh
è Thể hiện chi tiết trong giáo án
2/ Thành tố tổ chức
Có 4 kĩ năng cần cho người giáo viên:
-         Kỹ năng trình bày tài liệu
Trình bày phải rõ ràng, logic
Ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc, trong sáng, dễ hiểu
Sử dụng đúng thuật ngữ khoa học
Ví dụ sinh động
Phương tiện dụng cụ dạy học
-         Kỹ năng làm chủ hành vi (quan trọng nhất)
Cần có sự rèn luyện hành vi và thái độ của mình trong giao tiếp, tiếp xúc với học sinh, thái độ ổn định trong giao tiếp
Tác phong, trang phục, giờ giấc
-         Kỹ năng điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh
-         Kỹ năng kiểm tra và đánh giá
3/ Thành tố giao lưu
a. Giao lưu giữa giáo viên và học sinh
Thầy phải có thái độ đúng trong giao tiếp, tiếp xúc với học sinh của mình: nhiệt tình, vui vẻ
Khéo léo đối xử sư phạm
-         Nhịp độ làm việc vừa phải
-         Khi giảng bài thì nhiệt tình, vui vẻ và bao quát lớp học
-         Yêu thương chân thật học sinh
-         Đứng trên uy tín với học sinh
-         Giáo viên tôn trọng nhân cách học sinh
b. Giao lưu giữa học sinh với nhau
Để xây dựng được mối quan hệ tốt giữa học sinh với học sinh , lưu ý 3 quy tắc
-         Tôn trọng lẫn nhau, không xúc phạm đến cá tín, sở thích của nhau
-         Quan tâm giúp đỡ lẫn nhau
-         Chân thành với nhau


Tải về xem thêm tại:
https://docs.google.com/file/d/0B5a_JPnxG-thOGlyeng4TkJVcHc/edit?usp=sharing

Nguyễn Phát Lợi - Tóm tắt

Các điều kiện lắp đặt trạm biến áp


Vị trí đặt trạm: 
Vị trí của các trạm biến áp phải thoả mãn các yêu cầu cơ bản sau :
  • An toàn và liên tục cung cấp điện 
  • Gần trung tâm phụ tải, thuận tiện cho dây dẫn vào/ra 
  • Thao tác, lắp đặt, vận hành, quản lí dễ dàng 
  • Phòng nổ, cháy, bụi bặm, khí ăn mòn tốt 
  • Tiết kiệm vốn đầu tư và chi phí vận hành nhỏ 
  • Có tính đến sự phát triển của hệ thống cung cấp điện 
Trong thực tế, việc đạt tất cả các yêu cầu trên là rất khó khăn, do đó cần xem xét và cân nhắc các điều kiện thực tế để có thể chọn phương án tốt nhất.

Số lượng MBA trong trạm: 
  • Đối với hộ phụ tải loại I, thường chọn 2 MBA trở lên để đảm bảo yêu cầu cung cấp điện liên tục. 
  • Đối với hộ phụ tải loại II, số lượng MBA được chọn còn tuỳ thuộc vào việc so sánh các hiệu quả kinh tế, kỹ thuật. 
  • Đối với hộ phụ tải loại III,có thể chỉ dùng 1 MBA 
Để đơn giản trong vận hành , số lượng MBA trong 1 trạm không nên quá 3 và các MBA này nên có cùng chủng loại và công suất

Dung lượng MBA: 
Khi trạm có 1 MBA SđmMBA ≥ Smax
Khi trạm có n MBA SđmMBA ≥ S_max/n
Trong đó: 
  • SđmMBA : Dung lượng của MBA 
  • Smax: Công suất cực đại của phụ tải 
  • N: số lượng MBA làm việc song song 
Khi nhiệt độ môi trường làm việc của MBA θ khác với nhiệt độ định mức θ_o thì cần phải hiệu chỉnh công suất theo công thức sau:


Cần chú ý tính phụ tải cho phép của MBA trong chế độ làm việc bình thường (quá tải thường xuyên) và quá tải cho phép trong chế độ sự cố (quá tải sự cố)
Kiểm tra theo điều kiện quá tải sự cố, hư hỏng 1 trong những MBA vận hành song song với 1 thời gian hạn chế để không gián đoạn cung cấp điện
Nếu trạm chỉ đặt 1 MBA , công suất của MBA chọn theo khả năng quá tải thường xuyên của MBA
Nếu trạm đặt 2MBA trở lên, công suất định mức của MBA được chọn có xét đến khả năng quá tải khi sự cố một trong các MBA

Các chỉ tiêu kinh tế và kỹ thuật của một phương án thiết kế cung cấp điện

Hình chỉ mang tính minh hoạ

Các chỉ tiêu kinh tế: 
- Vốn đầu tư nhỏ ( bao gồm chi phí mua mới thiết bị và chi phí xây dựng trực tiếp, chi phí tồn kho các thiết bị và chi phí xây dựng gián tiếp)
- Chi phí vận hành thấp ( bao gồm chi phí nhân công bảo quản, chi phí vật tư vận hành và bảo quản, chi phí khấu hao, chi phí do tổn thất điện năng và mất điện)
- Phương án thu hồi vốn đầu tư

Các chỉ tiêu kỹ thuật: 
- Đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện: thể hiện qua khả năng liên tục cung cấp điện, độ tin cậy càng cao thì khả nặng mất điện càng thấp và ngược lại
- Đảm bảo chất lượng điện năng: bao gồm đảm bảo độ lệch, độ dao động điện áp và tần số nằm trong phạm vị cho phép so với định mức
- Tính đơn giản trong lắp đặt, vận hành , bảo trì, linh hoạt khi xảy ra sự cố
- An toàn cho người vận hành, thuận tiện khi sửa chữa
- Khả năng phát triển phụ tải
- Tính tự động hoá cao

Các công thức toán học

Các công thức toán học đại số và toán học lượng giác.











Bảng động từ bất quy tắc

Bảng động từ bất quy tắc