Quy ước màu dây trong Hệ thống điện

Ở Việt Nam về màu sắc dây điện cấp nguồn hiện sử dụng theo tiêu chuẩn IEC (International Electrotechnical Commission) phiên bản cũ (trước năm 2006).

Màu dây theo IEC cũ (hiện đang dùng ở VN)



 Màu dây theo IEC mới (châu Âu)

 Màu dây ở Mỹ

Convert mp3 - 3gp - flv


Phần mềm có chức năng chuyển đổi các định dạng video và âm thanh, hoàn toàn miễn phí mà chất lượng hình ảnh không suy giảm

http://www.mediafire.com/?m66c216mg726ots

Năng lượng sinh khối


Sinh khối chứa năng lượng hóa học, nguồn năng lượng tử mặt trời tích lũy trong thực vật qua quá trình quang hợp. Sinh khối là các phế phẩm từ nông nghiệp (rơm rạ, bã mía, vỏ, xơ bắp v..v..), phế phẩm lâm nghiệp (lá khô, vụn gỗ v.v…), giấy vụn, mêtan từ các bãi chôn lấp, trạm xử lý nước thải, phân từ các trại chăn nuôi gia súc và gia cầm.
Nhiên liệu sinh khối có thể ở dạng rắn, lỏng, khí… được đốt để phóng thích năng lượng. Sinh khối, đặc biệt là gỗ, than gỗ (charcoal) cung cấp phần năng lượng đáng kể trên thế giới. Ít nhất một nửa dân số thế giới dựa trên nguồn năng lượng chính từ sinh khối. Con người đã sử dụng chúng để sưởi ấm và nấu ăn cách đây hàng ngàn năm. Hiện nay, gỗ vẫn được sử dụng làm nhiên liệu phổ biến ở các nước đang phát triển.
Sinh khối cũng có thể chuyển thành dạng nhiên liệu lỏng như mêtanol, êtanol dùng trong các động cơ đốt trong; hay thành dạng khí sinh học (biogas) ứng dụng cho nhu cầu năng lượng ở quy mô gia đình.


Ich lợi của năng lượng sinh khối
(1) Lợi ích kinh tế
-Phát triển nông thôn là một trong những lợi ích chính của việc phát triển NLSK, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động (sản xuất, thu hoạch…)
-Thúc đẩy sự phát triển công nghiệp năng lượng, công nghiệp sản xuất các thiết bị chuyển hóa năng lượng.v.v..
-Giảm sự phụ thuộc vào dầu, than, đa dạng hóa nguồn cung cấp nhiên liệu.
(2) Lợi ích môi trường :
Đây là một nguồn năng lượng khá hấp dẫn với nhiều ích lợi to lớn cho môi trường .
-NLSK có thể tái sinh được.
-NLSK tận dụng chất thải làm nhiên liệu. Do đó nó vừa làm giảm lượng rác vừa biến chất thải thành sản phẩm hữu ích.
Đốt sinh khối cũng thải ra CO2 nhưng mức S và tro thấp hơn đáng kể so với việc đốt than bitum. Ta cũng có thể cân bằng lượng CO2 thải vào khí quyển nhờ trồng cây xanh hấp thụ chúng. Vì vậy, sinh khối lại được tái tạo thay thế cho sinh khối đã sử dụng nên cuối cùng không làm tăng CO2 trong khí quyển.
Như vậy, phát triển NLSK làm giảm sự thay đổi khí hậu bất lợi, giảm hiện tượng mưa axit, giảm sức ép về bãi chôn lấp v..v…
Tuy nhiên, ta cần lưu ý rằng, nếu tăng cường sử dụng gỗ như một nguồn nhiên liệu sinh khối thì sẽ gây những tác động tiêu cực đến môi trường. Khai thác gỗ dẫn đến phá rừng, xói mòn đất, sa mạc hóa và những hậu quả nghiêm trọng khác. NLSK có nhiều dạng, và những ích lợi kể trên chủ yếu tập trung vào những dạng sinh khối mang tính tái sinh, tận dụng từ phế thải nông lâm nghiệp.

Ethanol từ sinh khối

Ethanol được sản xuất từ sự chuyển hóa tinh bột trong các nguyên liệu sinh khối (bắp, khoai tây, mía..) thành rượu. Quá trình lên men tương tự như quá trình sản xuất nước giải khát chứa cồn. Chú ý, bât lợi chính của các nhiên liệu alcohol (metanol, etanol…) là dù chúng được sản xuất từ sinh khối, khí than…thì 30-40% năng lượng trong nhiên liệu ban đầu đã bị mất đi cho quá trình chuyển hóa alcohol.Các tính toán cho thấy, việc sản xuất alcohol từ hoa màu tiêu tốn nhiều năng lượng cho quá trình trồng trọt, thu hoạch…Vì vậy, nhiên liệu alcohol sản xuất từ hoa màu không kinh tế.
Hiện nay có một quá trình sản xuất etanol sử dụng phần cellulose trong các sinh khối như cây, cỏ và phế thải nông nghiệp. Cellulose là một dạng hydrocacbon khác cũng có thể phân hủy thành các đường đơn. Quá trình này còn tương đối mới và chưa phổ biến rộng rãi trên thị trường nhưng cho thấy tiềm năng khá lớn nếu tận dụng được nguồn nguyên liệu rẻ tiền và dồi dào trên.
Sử dụng etanol, thậm chí với mức hòa trộn thấp (ví dụ E10 : 10% etanol, 90% xăng), cũng có thể đem lại những ích lợi cho môi trường (Etanol dễ phân hủy sinh học hơn xăng).E10sinh ra ít CO, SO2, CO2 hơn xăng. Tuy nhiên E10 sinh ra nhiều chất hữu cơ bay hơi và NOx hơn. Ở mức hòa trộn cao hơn (E85, 15% xăng), hay thậm chí E100 (100% etanol) nhiên liệu cháy với sự giảm gần như tất cả các chất ô nhiễm kể trên. Điều cần lưu ý duy nhất khi sử dụng mức etanol hòa trộn cao (ETBE :ethanol-based oxygenate) là nồng độ các acetaldehydes. Tuy nhiên, điều này có thể khống chế được nhờ bộ lọc khói thải trong xe hơi (catalytic converter).
Ethanol bay hơi kém hơn xăng nên, giống như metanol, nó khó khởi động khi trời lạnh, và vấn đề hiệu suất năng lượng thấp có thể khắc phục nhờ những thiết kế động cơ thích hợp và sự hòa trộn với xăng như trên.

Biogas

Được mệnh danh là “cuộc cách mạng nâu” trong lĩnh vực năng lượng mới (The Brown Revolution), Biogas hiện nay được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển có khí hậu nhiệt đới (Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Nepal, Kenia, Thái Lan, Việt Nam…) thích hợp cho quá trình lên men kỵ khí các chất thải hữu cơ để tạo khí sinh học.
Biogas cháy với ngọn lửa xanh, không sinh khói, nhiệt độ và nhiệt lượng cao (1 mét khối khí cháy phát ra nhiệt 4700-5900 kcal tùy theo hàm lượng CH4 (mêtan); mà hàm lượng CH4 lại ohụ thuộc vào nguyên liệu ủ).
Biogas sử dụng nguyên liệu đa dạng, thường là tận dụng các chất thải, phế thải, phế phẩm trong nông lâm ngư nghiệp . Quy mô gia đình thường sử dụng phân gia súc, quy mô lớn hơn có thể phát triển sử dụng các loại rác đô thị và rác công nghiệp làm nguyên liệu. (VD : Nhà máy Biogas ở Tilburg (Ấn Độ) khai thác nguyên liệu từ rác thải của các thành phố lớn). Ở Việt Nam ta cũng có những đề tài nghiên cứu sản xuất Biogas từ việc ứng dụng mô hình bể lọc kỵ khí UASB (Upflow Anaerobic Sludge Blanket) để xử lý nước thải của những ngành công nghiệp giàu chất hữu cơ (nước thải nhà máy chế biến thực phẩm, đường, rượu…) trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Sản xuất mêtan sinh học từ chất thải lưu giữ cơ chất trong thời gian dài (ủ nhiều tuần lễ) ở điều kiện kỵ khí nên làm giảm đến 90% ký sinh trùng gây bệnh, khử được mùi khó chịu. Do đó, vấn đề vệ sinh môi trường được cải thiện.
Không chỉ xử lý chất thải hữu cơ, làm sạch môi trường, phát triển Biogas còn cung cấp bã thải là phân bón có giá trị cao cho nông nghiệp, tăng độ phì cho đất.
Trở lại với vai trò năng lượng, việc sản xuất khí mêtan sinh học có thể tự đáp ứng đủ nhu cầu chất đốt, kể cả điện khí hóa ở các vùng nông thôn. Bigas cũng góp phần làm giảm nạn phá rừng ở các nước đang phát triển, giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.
Các hầm ủ Biogas có thể xây dựng với công suất bất kỳ, vốn đầu tư nhỏ, nguyên liệu sẵn có nên nó khá phù hợp với nền kinh tế các nước đang phát triển. Người ta sử dụng năng lượng Biogas để đun nấu, thắp sáng, chạy máy…Biogas thực sự đem lại cuộc sống văn minh, tiện nghi hơn cho nông thôn.
Với hàng loạt những lợi ích về kinh tế – xã hội và môi trường trên, Biogas hứa hẹn tiềm năng to lớn trong việc góp phần giải quyết vấn đề chất đốt sinh hoạt hiện nay.

Nhà máy điện từ rác-Một chiến lược năng lượng mới

(bài đăng trên báo Người Lao Động-Ghi chép của Thái Nguyễn Bạch Liên)
Kỹ thuật đốt rác phát điện từng có lịch sử nghiên cứu phát triển hơn 30 năm trở lại đây, nhiều nhà máy ở Đức (32% lượng rác được xủ lý bằng đrpđ), Đan Mạch (70%), Bỉ (29%), Pháp (38%).. đã trở thành hình mẫu cho ngành công nghệ “năng lượng và bảo vệ môi trường” này. Ở châu Á, Singapore (100% lượng rác được xử lý bằng đốt rác phát điện) và Nhật Bản (72,8%) là hai nước đi đầu trong kỹ thuật đốt rác phát điện.
Quy trình công nghệ của nhà máy điện rác tương tự như nhà máy nhiệt điện, chỉ khác ở chỗ nhiên liệu không giống nhau và phải trang bị thêm hệ thống xử lý làm sạch khói, khí khá phức tạp.
Tính ưu việt của nhà máy điện rác so với các lò đốt rác thông thường chính là ở chỗ trong khi giảm trọng lượng và thể tích rác nhờ quá trình đốt, nó còn có tác dụng “tài nguyên hóa”, biến rác trở thành nhiên liệu sản xuất năng lượng, “vô hại hóa” rác. Tro bụi từ lò thiêu được phân tuyển bằng từ tính, sau đó trở thành vật liệu phủ mặt đường hoặc lấp lấn biển.

Cảm ứng điện trở - Cảm ứng điện dung


Màn hình cảm ứng nói chung bao gồm khá nhiều loại như cảm ứng điện dung, điện trở, hồng ngoại, sóng âm,… nhưng đối với điện thoại di dộng, smartphone hay máy tính bảng hai công nghệ cảm ứng điện dung và điện trở được sử dụng nhiều hơn cả.
Cảm ứng điện trở
Cảm ứng điện trở là công nghệ cảm ứng dựa trên áp lực của tay, bút cảm ứng hay bất kì vật nhọn nào tác động lên màn hình.

Cấu tạo của loại màn hình cảm ứng này gồm một tấm kính hoặc nhựa acrylic mỏng bao phủ hai lớp tương tác là lớp dẫn xuất điện và lớp cảm biến điện trở. Hai lớp này được phân tách bởi một lớp đệm gồm các điểm và khoảng trống mà mắt thường không thể nhìn thấy được. Trên bề mặt của mỗi lớp tương tác được phủ một hợp chất gọi là ITO (oxit thiếc và Indi), dòng điện với các mức điện thế khác nhau sẽ được truyền qua hai lớp này.

Trong quá trình sử dụng, khi có sự tác động lên màn hình, hai lớp tương tác sẽ “chạm” nhau và mạch điện sẽ được kết nối đồng thời cường độ dòng điện chạy qua mỗi lớp cũng sẽ thay đổi. Lớp phía trên sẽ lấy điện thế từ lớp phía dưới và ngược lại lớp phía dưới sẽ lấy điện thế của lớp phía trên để từ đó bộ điều khiển xác định được tọa độ xy của điểm cảm ứng.

Màn hình cảm ứng điện trở được chia làm ba công nghệ chính là 4,5 và 8 dây, trong đó loại 5 giây được sử dụng nhiều nhất. Bên cạnh đó, người ta còn chế tạo ra loại màn hình có 3 lớp nhằm nâng tuổi thọ của loại màn hình này lên 35 triệu lần chạm thay vì 1 triệu lần chạm như loại 2 lớp truyền thống.

Để có thể nhận biết được tác động của tay người dùng hay bút cảm ứng, các màn hình cảm ứng điện trở cần phải có lớp tương tác mềm phía trên. Điều này khiến nhiều người tỏ ra lo ngại về độ bền của chiếc điện thoại bởi khi thao tác màn hình cảm ứng điện trở đòi hỏi một lực tác động lớn hơn cảm ứng điện dung. Một nhược điểm nữa của loại màn hình này đó là việc ngăn chặn đến 30% lượng ánh sáng từ đèn nền bên dưới do có quá nhiều lớp thành phần bên trong.

Tuy nhiên với đặc điểm là giá thành rẻ và chịu được môi trường khắc nghiệt, các loại màn hình vẫn còn được sử dụng trong khá nhiều thiết bị cảm ứng nơi công cộng. Riêng ở lĩnh vực điện thoại và smartphone, loại màn hình này chỉ phổ biến  trong thời gian trước đây với các sản phẩm như HTC Touch Diamond, Samsung SGH-i900 Omnia, Nokia N97, còn hiện nay hầu như chỉ có ở một số dòng cấp thấp.

Cảm ứng điện dung

Không như màn hình cảm ứng điện trở, màn hình cảm ứng điện dung chỉ sử dụng một lớp tương tác (lưới điện) được bao phủ bởi một lớp dẫn xuất điện làm từ hợp chất ITO tạo nên một ma trận lưới các tụ điện bao phủ toàn bộ màn hình và không có lớp đệm. Với đặc điểm này màn hình cảm ứng điện dung sẽ cho ánh sáng đi qua nhiều hơn, lên đến 90%.

Cách thức hoạt động của loại màn hình này dựa trên sự hút điện của bàn tay khi chúng ta chạm lên màn hình. Nó sẽ làm mất điện ở các tụ điện nơi tiếp xúc kéo theo sự thay đổi giá trị điện dung để từ đó thiết bị điều khiển có thể nhận dạng, xác định được toạ độ xy của điểm cảm ứng. Chính nhờ việc sử dụng thuộc tính điện năng trên cơ thể con người mà loại màn hình này có thể “hiểu” được những thao tác dù là rất nhẹ giúp việc cảm ứng trở nên nhẹ nhàng và dễ dàng hơn các loại màn hình khác. Nhưng cũng chính điều này làm cho việc sử dụng bút hay găng tay không còn phát huy tác dụng.

Với ưu điểm nhanh, nhạy và chính xác cao của mình, màn hình cảm ứng điện dung đang ứng dụng rất nhiều ở các lĩnh vực khác nhau. Đặc biệt, chúng đang là công nghệ cảm ứng dẫn đầu trong thế giới của các thiết bị giải trí cầm tay mà điển hình là smartphone.

Cảm ứng đa điểm

Có thể chúng ta đã khá quen thuộc với các khả năng “làm xiếc” của những chiếc smartphone khiến cho bàn tay chúng ta dường như có “ma lực” với hàng loạt các thao tác như vuốt, kéo, lật, bóp,… Đằng sau những hiệu ứng rất “ảo” ấy chính là công nghệ đa chạm hay còn được gọi là cảm ứng đa điểm. 

Khái niệm về cảm ứng đa chạm không phải là một điều mới mẻ gì trong ngành điện toán và điện tử. Nó đã bắt đầu xuất hiện từ mãi những năm 80 khi các kỹ sư ở đại học Toronto phát triển thành công chiếc màn hình cảm ứng đa điểm đầu tiên. Từ đó, họ bắt đầu chuyển sang nghiên cứu sâu hơn về giao diện cũng như phần mềm và nền móng cho công nghệ mang tính đột phá ấy sau này.

Tuy nhiên, mãi đến ngày chiếc iPhone đầu tiên được ra mắt, cụm từ “đa chạm” mới trở nên quen thuộc thậm chí tạo nên cơn sốt với nhiều người. Với thành công ấy, iPhone nhanh chóng trở thành hiện tượng của năm và cũng trở thành chiếc smartphone làm thay đổi hoàn toàn xu thế người dùng đồng thời mở ra một làn sóng mới trong cuộc đua điện thoại di động đã có phần bão hoà.

Với việc hỗ trợ đa chạm, các nhà sản xuất có nhiều lựa chọn hơn để thiết lập các thao tác trên màn hình cảm ứng. Từ đó, đem đến cho người dùng những trải nghiệm thú vị hơn. Tuy nhiên, không phải chiếc điện thoại cảm ứng nào cũng có các thao tác cảm ứng giống nhau, điều đó phụ thuộc vào hệ điều hành mà thiết vị đó sử dụng. Với cùng một thao tác, có thể trên iOS bạn sẽ được chức năng này nhưng ở Android lại là một chức năng hoàn toàn khác.

Hầu hết các nền tảng lớn hiện nay đã hỗ trợ đến tối đa cùng lúc 5 điểm chạm cho 5 đầu ngón tay. Mặc dù vậy, các thao tác 3,4 hay 5 chạm vẫn còn ít được sử dụng bởi việc đặt quá nhiều ngón cùng lúc lên màn hình sẽ gây khó khăn cho người dùng.

Bên cạnh đó các hãng sản xuất cũng có thể tham gia vào cải thiện khả năng cảm ứng cho những chiếc smartphone của họ nhằm đem đến những trải nghiệm thú vị hơn cho người dùng. Lấy ví dụ điển hình như với Xperia Sola, Sony đã tích hợp một công nghệ gọi là Floating Touch giúp màn hình của chiếc điện thoại này có thể hiểu được cử chỉ của ngón tay mà không cần phải chạm sát lên màn hình, bạn chỉ cần thao tác trong khoảng cách khoảng 2cm là máy đã có thể hiểu được. Tuy nhiên, khả năng này chỉ mới được rất ít ứng dụng hỗ trợ, có lẽ trong tương lai sẽ được phát triển nhiều hơn.

Màn hình cảm ứng điện trở hay điện dung đều hỗ trợ công nghệ đa điểm. Nhưng với lợi thế về độ nhạy, sự chính xác và khả năng kiểm soát nhiều điểm tiếp xúc dễ dàng, màn hình cảm ứng điện dung được sử dụng phổ biến hơn cả. Nguyên lý hoạt động của đa điểm cũng tương tự như đơn điểm chỉ khác nhau ở chỗ đa chạm sẽ xác định nhiều toạ độ cùng lúc trên màn hình. Vì vậy, khả năng đáp ứng theo thời gian thực rất được chú trọng để có thể xác định chính xác thao tác của người dùng.

(theo eChip Mobile)


--------
nguồn: http://www.pcworld.com.vn/articles/cong-nghe/cong-nghe/2009/08/1194367/man-hinh-cam-ung-dang-sau-nhung-cu-cham/
Được sử dụng rộng rãi từ khá lâu trong các máy rút tiền tự động (ATM), máy tính tiền tại cửa hiệu bán lẻ hay siêu thị, hệ thống hướng dẫn lái xe gắn trên ô-tô, ki-ốt thông tin tại các địa điểm công cộng, màn hình trong lĩnh vực y tế hay bảng điều khiển trong sản xuất công nghiệp, vài năm trở lại đây, màn hình cảm ứng (touch screen) trở nên phổ biến trên thiết bị điện tử, máy giải trí cầm tay và điện thoại di động. Đặc biệt, màn hình cảm ứng đã bước sang một trang mới, được nhiều người dùng quan tâm hơn với sự xuất hiện của khái niệm "cảm ứng đa chạm" mà chiếc điện thoại thông minh iPhone tiên phong mang đến cho người dùng những trải nghiệm mới trong tương tác, điều khiển thiết bị cũng như ứng dụng.
Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu những khái niệm cơ bản về màn hình cảm ứng, các chủng loại màn hình cảm ứng đang được sử dụng đại trà và nguyên lý hoạt động của chúng.
Định nghĩa
Nói theo kiểu "bình dân" thì màn hình cảm ứng là dạng màn hình thể hiện sự "nhạy cảm" và có những "phản hồi" với các thao tác tiếp xúc, tác động của ngón tay, bút trâm (stylus)... lên bề mặt màn hình. Màn hình cảm ứng có khá nhiều ưu điểm cũng như lợi thế, nhưng ưu điểm quan trọng bậc nhất là cung cấp nhiều cách thức thiết kế, thay đổi giao diện ứng dụng, thiết bị so với một nhóm các nút nhấn vật lý cố định như trước. Với màn hình cảm ứng, "nhạy cảm" đồng nghĩa với khả năng phản hồi những tác động nhận được thông qua việc hiển thị những nội dung đã lập trình sẵn hay kích hoạt một (hay nhóm) tính năng, tác vụ nào đó trên ứng dụng, thiết bị.
Có thể nói, công nghệ màn hình cảm ứng hội đủ tiềm năng để thay thế hầu hết tính năng quan trọng của chuột và bàn phím cũng như các nút nhấn điều khiển. Bạn hãy hình dung, sẽ thật tuyệt vời nếu một hệ thống không trang bị bàn phím "cứng" mà sử dụng bàn phím "mềm", hiển thị ngay lập tức trên màn hình bất cứ khi nào người dùng/hệ thống cần nhập liệu (văn bản, số,...).
Nhiều loại màn hình cảm ứng thậm chí có thể "đọc" chữ viết tay, bản in, ảnh đồ họa và "hiểu" các thao tác chuyển động của ngón tay (với màn hình cảm ứng đa chạm). Nhờ sự linh hoạt này, công nghệ màn hình cảm ứng nói chung và giao diện màn hình cảm ứng nói riêng hiện được sử dụng rộng rãi trong nhiều ứng dụng để tăng tính tương tác giữa con người và máy móc. Trong lĩnh vực sản phẩm CNTT và TT, màn hình cảm ứng chủ yếu xuất hiện trong máy tính bảng (Tablet PC), ĐTDĐ, điện thoại thông minh (smartphone), máy nghe nhạc kỹ thuật số và máy chơi game cầm tay (điển hình là Nintendo DS).
Cấu tạo và nguyên lý
Mọi màn hình cảm ứng đều có nhiệm vụ chính là "số hóa" vị trí tiếp xúc trên màn hình sang giá trị tọa độ X-Y ngay khi "cảm ứng" được tác động. Màn hình cảm ứng gồm 3 thành phần cơ bản: cảm biến cảm ứng, bộ điều khiển (phần cứng) và phần mềm điều khiển. Trong một hệ thống/thiết bị hoàn chỉnh, không chỉ đóng vai trò hiển thị, màn hình cảm ứng còn là thiết bị đầu vào (input device).
Hình 1: Màn hình cảm ứng điện trở
• Cảm biến cảm ứng: Là một tấm (panel) thủy tinh hay nhựa acrylic trong suốt, bề mặt được thiết kế các cảm biến (sensor) để nhận dạng và đáp ứng những tác động từ ngón tay người dùng hay bút trâm. Thông thường, cảm biến cảm ứng được ghép sát với màn hình hiển thị để đạt được độ chính xác tuyệt đối về tọa độ của điểm tiếp xúc. Có nhiều công nghệ được các hãng sản xuất áp dụng để "giăng lưới" và "bẫy" điểm tiếp xúc trên màn hình cảm ứng. Tuy nhiên, về cơ bản, khi có bất kỳ tiếp xúc nào lên màn hình cảm ứng thì giá trị điện áp, điện dung hay điện trở của màn hình (nói chính xác là của cảm biến cảm ứng) sẽ thay đổi; và bằng những thuật toán xây dựng sẵn, toạ độ điểm tiếp xúc sẽ được xác định một cách dễ dàng và nhanh chóng.
• Bộ điều khiển: Là một mạch điện tử dùng để nối cảm biến cảm ứng với thiết bị hay phần mềm điều khiển màn hình cảm ứng. Bộ điều khiển phần cứng có nhiệm vụ chính là "biên dịch" thông tin nhận được từ cảm biến cảm ứng sang dạng tín hiệu mà thiết bị xử lý hiểu được. Sau khi tín hiệu được xử lý xong, thông thưòng kết quả sẽ xuất trực tiếp ra màn hình tương ứng với "lệnh" tác động. Tuy nhiên, trong một số trường hợp kết quả sẽ được trả cho bộ điều khiển để có những phản hồi ngược cho màn hình hiển thị.
• Phần mềm điều khiển: Từng thiết bị cụ thể sẽ có ứng dụng riêng giúp hệ điều hành cũng như các ứng dụng khác biết cách xử lý dữ liệu vừa được số hóa từ cảm biến cảm ứng, sau đó gửi trả dữ liệu đã xử lý cho bộ điều khiển (nếu có). Nếu như có vài bộ điều khiển được tích hợp trong màn hình thì trên nhiều thiết bị, phần mềm điều khiển sẽ được cài hẳn vào firmware.
Phân loại
Các hãng sản xuất thường chia màn hình cảm ứng thành 2 loại: màn hình số hóa chủ động (active digitizer tablet) và màn hình cảm ứng bị động (passive touch screen).
• Màn hình số hóa chủ động: Dù màn hình đồ họa cảm ứng đã được sử dụng trong các hệ thống thiết kế có sự hỗ trợ của máy tính (CAD) và ứng dụng đồ họa từ nhiều năm qua, song công nghệ số hóa chỉ mới được "nhúng" vào màn hình của máy tính bảng trong thời gian gần đây để điều khiển máy tính với sự chuẩn xác như khi sử dụng chuột. Bút trâm dùng cho loại màn hình này cũng kiêm chức năng phát tín hiệu điện từ vào lưới toạ độ X-Y có độ phân giải rất cao - lưới tọa độ này có kích thước bằng đúng kích thước của khung hình hiển thị. Màn hình cảm ứng chủ động chủ yếu xuất hiện trên máy tính bảng, bảng điện tử dùng trong hội họp và giảng dạy, hệ thống CAD/CAM. Nhiều máy tính bảng hiện nay còn hỗ trợ đồng thời công nghệ màn hình cảm ứng chủ động lẫn bị động nhằm cải thiện tính chính xác của tính tương tác giữa bút trâm và màn hình, cũng như mang lại sự đơn giản trong thao tác điều khiển của ngón tay.
• Màn hình cảm ứng bị động: Là loại màn hình thường được dùng cho các thiết bị điện tử, máy ATM, máy tính tiền, ki-ốt thông tin công cộng, máy chơi game cầm tay, thiết bị di động và đặc biệt là nhiều dòng ĐTDĐ, smartphone do cấu tạo đơn giản, dễ sản xuất cũng như giá thành tương đối rẻ.
Hình 2: Màn hình cảm ứng điện dung
Màn hình cảm ứng bị động được phân loại trên cơ sở 4 công nghệ của cảm biến cảm ứng là điện trở (resistive), điện dung (capacitive), hồng ngoại (infrared) và sóng âm thanh bề mặt (surface acoustical wave). Dĩ nhiên, mỗi công nghệ có ưu và khuyết điểm riêng. Trong lĩnh vực ĐTDĐ nói chung và smartphone nói riêng, 2 loại màn hình cảm ứng thường được sử dụng là cảm ứng điện trở và cảm ứng điện dung (nhiều người còn gọi là màn hình cảm ứng nhiệt).
1. Màn hình cảm ứng điện trở (resistive touchscreen): Là loại nhạy cảm với "áp lực" tác động lên bề mặt và có thể được điều khiển bằng bút trâm, ngón tay hay bất kỳ vật nào có đầu nhọn. Màn hình cảm ứng điện trở sử dụng panel kiếng hay nhựa acrylic gồm 2 lớp tương tác mỏng: lớp chất dẫn điện và lớp điện trở - 2 lớp này được cách ly bởi những điểm và khoảng trống mà mắt thường không thể nhìn thấy. Trên bề mặt mỗi lớp tương tác được phủ một hợp chất gọi là ITO (oxít thiếc và Indi), trong khi đó dòng điện với mức điện thế khác nhau sẽ được truyền qua 2 lớp này. Khi có một tác động lên màn hình, 2 lớp tương tác này "chạm" nhau và mạch điện sẽ được nối, cường độ dòng điện chạy qua mỗi lớp cũng sẽ thay đổi. Lớp phía trước sẽ lấy điện thế từ lớp dưới và lớp dưới sẽ lấy điện thế từ lớp trên, qua đó cho phép bộ điều khiển xác định tọa độ X-Y của vị trí tiếp xúc. Người ta thậm chí còn phân loại màn hình cảm ứng điện trở dựa trên số lượng dây điện trở sử dụng, thường là 4/5/8 dây.
Tuy có giá thành sản xuất rẻ nhưng công nghệ màn hình cảm ứng điện trở có nhược điểm là "ngăn" đến 30% lượng ánh sáng phát ra từ màn hình CRT hay LCD bên dưới do có quá nhiều lớp thành phần và vật liệu được phủ lên bề mặt. Ngoài ra, màn hình cảm ứng điện trở cũng đòi hỏi lực tác động mạnh hơn để kích hoạt cảm biến cảm ứng so với màn hình cảm biến điện dung. Bù lại, nhờ sự "cứng cáp" của bề mặt nên màn hình cảm ứng điện trở thường được sử dụng trong các môi trường khắc nghiệt và công cộng như khách sạn, sân bay, bệnh viện... Trong lĩnh vực ĐTDĐ và smartphone, màn hình cảm ứng điện trở được sử dụng phổ biến nhất, ví dụ như HTC Touch Diamond, Samsung SGH-i900 Omnia, Nokia N97.
2. Màn hình cảm ứng điện dung (capacitive touchscreen): Khác với màn hình cảm ứng điện trở, màn hình cảm ứng điện dung chỉ sử dụng một lớp tương tác, đó là panel kiếng được phủ kim loại và điều này trước mắt sẽ cho ánh sáng đi qua nhiều hơn (đến 90%) giúp hình ảnh hiển thị rõ ràng hơn. Lớp kim loại trên bề mặt sẽ tạo ra một lưới các tụ điện cho toàn bộ màn hình. Về nguyên lý, màn hình cảm ứng điện dung dựa trên các thuộc tính điện năng của cơ thể con người để xác định "khi nào và ở đâu" trên màn hình mà bạn tiếp xúc. Nhờ vậy, màn hình cảm ứng dạng này có thể được điều khiển bởi những "cái chạm" rất nhẹ từ ngón tay, tuy nhiên thường thì bạn không thể sử dụng được với bút trâm hay ngón tay có đeo găng. Đó chính là lý do mà nhiều người gọi màn hình dạng này là màn hình cảm ứng nhiệt.
Điện áp sẽ được đặt vào các góc của màn hình. Khi ngón tay chạm vào màn hình, vùng bị tiếp xúc sẽ được nhấn xuống, ngón tay sẽ "hút" một dòng điện và làm thay đổi giá trị dòng điện, tần số cũng được tạo ra từ các mạch điện được đặt ở góc hình (khác nhau tùy hãng sản xuất). Các mạch điện này sẽ tính toán vị trí tọa độ X-Y từ sự thay đổi giá trị điện dung tại điểm tiếp xúc.
Hình 3: Màn hình cảm ứng hồng ngoại và SAW.
Cụ thể hơn, các hãng sản xuất sử dụng một cảm biến gọi là "tụ điện đã được lập trình" đặt giữa 2 lớp kiếng (màn hình hiển thị và panel kiếng cảm ứng). Khi màn hình được tác động, bộ điều khiển sẽ xác định vị trí tọa độ X-Y từ sự thay đổi điện dung trên lưới tụ điện. Màn hình cảm ứng điện dung có độ chính xác và tin cậy cao nên được dùng rộng rãi trong các thiết bị sản xuất và điều khiển công nghiệp, màn hình hiển thị nơi công cộng. Nhờ sự linh hoạt trong nhận diện điểm tiếp xúc, màn hình cảm ứng điện dung cũng cho phép những tác động "2 ngón" như khả năng đa chạm trên iPhone, iPod Touch hay "kéo thả" trên nhiều dòng ĐTDĐ, smartphone hiện nay. Mẫu smartphone mới T-Mobile G1 cũng là thiết bị tiêu biểu sử dụng màn hình cảm ứng điện dung. Ngoài ra, bảng điều khiển GPS, giải trí trên nhiều dòng xe hơi trung và cao cấp cũng thường trang bị màn hình cảm ứng điện dung để tăng tính thuận tiện trong sử dụng.
3. Màn hình cảm ứng hồng ngoại (infrared touchscreen): Có phần giống màn hình cảm ứng điện trở, màn hình cảm ứng hồng ngoại phát ra các tia hồng ngoại theo chiều ngang và dọc trên bề mặt màn hình để tạo ra một lưới ánh sáng. Nguyên lý hoạt động dựa trên công nghệ ngắt tia sáng. Về cơ bản, màn hình cảm ứng hồng ngoại bố trí đầu phát tia hồng ngoại ở một (hay hai) cạnh màn hình, đối diện với đầu phát là cảm biến ánh sáng hay bộ dò ánh sáng.
Khi màn hình được tác động, ở vị trí bút trâm hay bất kỳ vật thể nào "cản" đường truyền của tia hồng ngoại, tín hiệu nhận được ở đầu bộ thu hay cảm biến ánh sáng sẽ bị gián đoạn. Ngay lập tức, bộ dò hay cảm biến ánh sáng sẽ tìm được tọa độ của điểm tiếp xúc trên màn hình.
Bởi vì phương pháp này không sử dụng các lớp tương tác trên bề mặt màn hình nên không cản trở bất kỳ nguồn sáng nào từ màn hình hiển thị bên dưới, giúp hình ảnh mà bạn nhìn thấy thực và sáng rõ. Ngoài ra, màn hình cảm ứng hồng ngoại cũng có thể được phủ thêm một lớp kiếng trong và cứng để tăng tính an toàn.
Màn hình cảm ứng hồng ngoại thường được dùng trong các ki-ốt thông tin công cộng, màn hình trong lĩnh vực y tế, sản xuất công nghiệp, máy bán hàng tự động và những nơi có điều kiện môi trường khắc nghiệt.
Hình 4: Màn hình cảm ứng trong dàn âm thanh xe hơi.
4. Màn hình cảm ứng sóng âm thanh bề mặt (SAW touchscreen): Là dạng màn hình cảm ứng tiên tiến nhất. Công nghệ SAW dựa trên hai bộ thu/phát sóng âm thanh (transducer) trên đồng thời trục X và trục Y của màn hình cảm ứng. Một thành phần quan trọng khác của SAW được đặt trên mặt kiếng màn hình, được gọi là bộ phản hồi (reflector). Nguyên lý hoạt động của màn hình cảm ứng sóng âm cũng tương tự màn hình cảm ứng hồng ngoại, đó là kiểm soát sự ngắt quãng tín hiệu, trong trường hợp này là sóng siêu âm.
Bộ điều khiển của màn hình cảm ứng sẽ gửi tín hiệu điện tử sang bộ phát sóng, và bộ phát sóng sẽ chuyển đổi tín hiệu nhận được sang dạng sóng siêu âm để chuyển tiếp sóng âm này đến bộ phản hồi được đặt ở đầu bên kia panel màn hình. Sau khi bộ phản hồi "khúc xạ" tín hiệu lại cho bộ thu sóng, tín hiệu sẽ được bộ thu gửi trả cho bộ điều khiển. Khi một ngón tay hay bút trâm chạm vào màn hình, chùm sóng đang di chuyển ngang/dọc trên màn hình sẽ bị ngắt quãng và tạo ra một "biến cố chạm" để từ đó bộ điều khiển xác định chính xác vị trí điểm tiếp xúc.
Do sử dụng panel kiếng - không phải các lớp tương tác có thể bị hao mòn như màn hình cảm ứng điện trở hay điện dung - công nghệ SAW cung cấp những thuộc tính quan trọng như độ bền cho bề mặt cảm biến, độ trong suốt và độ phân giải cao cho hình ảnh hiển thị. Điểm trừ cho màn hình cảm ứng sử dụng công nghệ SAW là phải "chạm" bằng ngón tay, bàn tay có đeo găng và bút trâm loại mềm (vật dụng cứng như đầu viết bi không thể sử dụng được), và đặc biệt màn hình cảm ứng dạng này không thể được "bịt kín" tuyệt đối nên có thể dễ bị tác động bởi bụi, bẩn hay nước trong môi trường xung quanh.
Công nghệ SAW được khuyến khích sử dụng trong các máy ATM, công viên, bảo tàng, các ứng dụng tài chính và ngân hàng, ki-ốt thông tin công cộng, hệ thống huấn luyện dựa trên máy tính. Hy vọng, những thông tin này đã mang lại cho bạn những khái niệm cơ bản và khởi đầu cho các bài viết chuyên sâu hơn về màn hình cảm ứng trong tương lai, cũng như mong nhận được những đóng góp, chia sẻ của các bạn.

Metal clad Switchgear LS




Mở Dao Cách Ly 354kV




On-Load Tap Changer (OLTC)


Lựa chọn bộ điều áp dưới tải cho máy biến áp.
Sự lựa chọn bộ điều áp dưới tải (ĐADT) thích hợp cho từng máy biến áp (MBA) phải rất cẩn thận, mặt dù chi phí bộ ĐADT chỉ là một phần nhỏ của toàn bộ chi phí thiết bị. Theo kinh nghiệm của các hãng sản xuất, bộ ĐADT là một nhân tố quang trọng cho sự ổn định của toàn bộ thiết bị MBA. Do đó sự tính toán phải được thực hiện theo các tiêu chuẩn của bộ ĐADT để lựa chọn.

Tiêu chuẩn IEC nêu rõ nguyên tắc lựa chọn và các đặc điểm cần xem xét về đặc tính kỹ thuật của bộ ĐADT. Ngoài ra tiêu chuẩn còn đưa ra các thông tin cần thiết được nhà sản xuất chỉ rõ theo yêu cầu từ đơn đặt hàng để đạt được tối ưu cho việc lựa chọn bộ ĐADT. Các hạng mục sau đây cần được xem xét trong quá trình lựa chọn bộ ĐADT theo tiêu chuẩn IEC phiên bản 60542 và được bổ sung một số lời chú thích.

Bộ ĐADT kiểu UCG (ABB sản xuất).
1. Mức cách điện.
Tấc cả điện áp xuất hiện trên mọi vị trí phải dựa trên điện áp chịu đựng cho phép được bảo đảm bởi nhà sản xuất bộ ĐADT, các điện áp này là:
1- Điện áp hoạt động bình thường xuất hiện trên bộ ĐADT khi làm việc.
2- Điện áp tần số công nghiệp xuất hiện trên bộ ĐADT trong quá trình thử nghiệm máy biến áp.
3- Điện áp xung xuất hiện trên bộ ĐADT trong quá trình thử nghiệm hay làm việc.
Ngoài ra với một số cách bố trí cuộn dây thì điện áp cao bất thường có thể xuất hiện, các điện áp này có thể được hạn chế khi lựa chọn kiểu điều chỉnh (tuyến tính, thô/tinh hay đảo cực). Độ điện cảm thay đổi trong lõi MBA cũng có thể ảnh hưởng đến điện áp xuất hiện trên bộ ĐADT. Quá điện áp quá độ tức thời xuất hiện trên lưới điện khi sự cố hay trong quá trình đóng cắt, những quá điện áp này tác động lên MBA và bộ ĐADT. Do đó người vận hành và sử dụng MBA phải nắm rõ những vấn đề về hệ thống và các trạng thái xẩy ra khi có sự cố lưới điện.
Cách điện của bộ ĐADT được chia thành cách điện bên trong và cách điện bên ngoài bộ điều áp. Điện áp chịu đựng của cách điện ngoài được tiêu chuẩn hóa tương ứng với điện áp cao nhất của thiết bị (Um). Trong trường hợp các bộ ĐADT đơn cực hay ba pha đấu sao, cách điện ngoài chính là cách điện với đất. Khi bộ ĐADT ba pha được sử dụng cho cuộn dây nối tam giác, cách điện ngoài là cách điện giữa các pha, cả hai được xác định bởi Um. Cách điện ngòai chỉ được xác định bởi thử nghiệm điện áp tần số công nghiệp. Thử nghiệm xung chỉ đóng vai trò thứ yếu đối với việc định cỡ bộ ĐADT.
Không có tiêu chuẩn hóa cho cách điện bên trong của bộ ĐADT. Tuy nhiên nó được xác định bằng điện áp chịu đựng định mức dựa trên cơ sở kinh nghiệm về các thông số chịu đựng trong quá trình thử nghiệm MBA và tương ứng với sự phân loại trong thực tế.



Thiết kế điện áp chịu đựng trên cuộn dây phân nấc

Điện áp giáng xuất hiện trên cuộn dây điều chỉnh 3 pha được mô tả bởi 6 giá trị (các tên gọi a,b,c,d,e,f) được định nghĩa trên hình vẽ. Các giá trị đó được gọi là “khoảng cách cách điện”. Điều này có thể gây nhầm lẫn vì giá trị này không thể hiện khoảng cách vật lý mà là điện áp chịu đựng của phần cách điện bên trong tương ứng của bộ ĐADT gây ra bởi sự chênh lệch điện thế trên cuộn dây phân nấc. Tấc cả các “khoảng cách cách điện” gồm những khoảng cách cách điện vật lý được nối song song trong bộ ĐADT. Điện áp chịu đựng được xác định bởi nhà sản xuất bộ ĐADT là điện áp chịu đựng của các “khoảng cách cách điện” yếu nhất.
Các thông số chịu đựng của cách điện trong phụ thuộc vị trí hoạt động của bộ ĐADT trong quá trình thiết kế và thử nghiệm MBA, đặc biệt là trong trường hợp thử nghiệm xung. Các thông số chịu đựng phải được phân biệt trong hoạt động hay thử nghiệm MBA. Thông thường các thông số xuất hiện khi hoạt động được khống chế bởi các tiêu chuẩn áp dụng cho thiết bị. Nhưng quá trình thử nghiệm máy biến áp lại phụ thuộc vào người sử dụng và các phương pháp thử nghiệm khác nhau. Để thỏa mãn các điều kiện này, tiêu chuẩn IEC phiên bản 60076-3 [IEC Publ. 60076-3 1980] đưa ra những sự phối hợp khác nhau của các thử nghiệm sau đây (phụ thuộc vào một số yếu tố như: điện áp của hệ thống, quá trình thử nghiệm,…):
- Thử nghiệm điện áp tần số công nghiệp.
- Thử nghiệm quá điện áp cảm ứng tại tần số công nghiệp (quá trình ngắn hạn).
- Thử nghiệm quá điện áp cảm ứng tại tần số công nghiệp cùng với đo lường phóng điện cục bộ.
- Thử nghiệm chịu đựng điện áp toàn sóng xung sét đối với đầu nối đường dây.
- Thử nghiệm chịu đựng điện áp sóng cắt xung sét đối với đầu nối đường dây.
- Thử nghiệm chịu đựng điện áp xung sét đối với đầu trung tính.
Khái niệm cơ bản về mức chịu đựng của cuộn dây phân nấc và bộ ĐADT của MBA điều chỉnh tại điểm trung tính, sử dụng cuộn dây thô/tinh, các giá trị đưa ra của điện áp xung sét là giá trị cực đại và không xuất hiện trên vị trí của bộ ĐADT được thể hiện sau đây.


Điện áp chịu đựng xuất hiện trên toàn bộ cuộn dây MBA trong quá trình thử nghiệm với các điện áp khác nhau (thông số MBA: 400MVA, 400kV ±16%/120kV/30/kV, bố trí cuộn dây thô/tinh, điều chỉnh tại điểm trung tính) [Breuer 1984] các ký hiệu viết tắt trên hình vẽ:
- S: Điện áp làm việc
- PF: Điện áp thử nghiệm tần số công nghiệp.
- LI: Điện áp thử nghiệm xung.
- FLI: Xung sét toàn sóng.
- CLI: Sóng cắt xung sét.
Lựa chọn đúng cách điện trong của bộ ĐADT cần phải tính toán với điều kiện là điện áp chịu đựng của một khoảng cách cách điện được xác định trên cơ sở giá trị đỉnh của điện áp chịu đựng và vùng thời gian của sóng điện áp xuất hiện.

2. Dòng điện định mức.
Dòng điện định mức của một bộ điều áp dưới tải là dòng điện mà bộ ĐADT đó có khả năng chuyển từ nấc này sang nấc khác an toàn trong điều kiện điện áp đặt trên nấc là hợp lý, không làm gián đoạn dòng điện. Thông thường dòng điện định mức của bộ ĐADT chính là dòng điện tải lớn nhất của cơ cấu chuyển nấc.
- Dòng điện định mức của bộ ĐADT phụ thuộc vào điện áp của nấc điều chỉnh, theo đặc tuyến của điện áp của một nấc/dòng điện định mức mà nhà chế tạo cung cấp.
- Dòng điện định mức quyết định kích thước của điện trở quá độ và tuổi thọ của các tiếp điểm.
- Dòng điện định mức của bộ ĐADT được nghi trên nhãn máy.
Dòng điện định mức lớn nhất (Imax) của bộ ĐADT không được nhỏ hơn dòng điện lớn nhất có thể chạy qua cuộn dây phân nấc của MBA và bộ ĐADT. Trong giới hạn của dòng định mức của bộ ĐADT có thể có các cách kết hợp khác nhau giữa dòng định mức chạy qua và điện áp bước tương ứng. Khi một giá trị của một điện áp bước định mức dẫn đến một giá trị đặc trưng của dòng điện thì được gọi là điện áp bước tương ứng.
Dòng điện định mức chạy qua và điện áp định mức xác định kích cỡ các điện trở chuyển tiếp của các bộ ĐADT kiểu nguyên lý chuyển mạch kiểu điện trở. Khi đáp ứng được các yêu cầu của tiêu chuẩn IEC 60214, công suất chuyển mạch của bộ ĐADT cũng được thử nghiệm (40 lần hoạt động) bằng cách chuyển mạch dòng điện bằng hai lần dòng điện định mức lớn nhất tại điện áp bước tương ứng lớn nhất được thiết kế cho bộ ĐADT. Độ mòn tiếp điểm được xác định bằng việc thực hiện 50 000 lần hoạt động với dòng điện định mức lớn nhất.
Quá trình tải liên tục thông thường không phải là một trạng thái quá tải đối với bộ ĐADT mà là một trạng thái làm việc thông thường. Bộ ĐADT được chọn phải có dòng định mức không nhỏ hơn dòng chuyển nấc cao nhất trong quá trình tải liên tục thông thường ở những hoàn cảnh khác nhau.

3. Dòng điện quá tải.
Với các MBA và bộ ĐADT phải chịu các điều kiện quá tải theo tiêu chuẩn IEC phiên bản 60354 [IEC Publ. 60354-1991], các điều kiện của tiêu chuẩn IEC phiên bản 60542 về bộ ĐADT đều thỏa mãn khi dòng điện định mức chạy qua lớn nhất của bộ ĐADT không nhỏ hơn 1,2 lần dòng điện định mức hoặc khi nhiệt độ bộ ĐADT không vượt quá giới hạn tăng nhiệt độ khi các tiếp điểm chịu 1,2 lần dòng điện định mức. Sự tăng nhiệt độ của các tiếp điểm vượt quá giá trị trung bình, không quá 200K trong trạng thái cân bằng đối với môi trường dầu (350 đến 650K trong môi trường không khí, phụ thuộc vật liệu của tiếp điểm).
Các điện trở chuyển tiếp sẽ chịu được yêu cầu về quá tải nếu sự tăng nhiệt độ quá giá trị trung bình không vượt quá 3500K đối với môi trường dầu (4000K đối với môi trường không khí) khi chịu đựng 1,5 lần dòng điện định mức lớn nhất. Số lần chuyển nấc với mỗi khoảng thời gian quá tải phải được giới hạn bởi số lần hoạt động cần thiết để chuyển từ điểm cuối dải này sang dải khác. Điều này tương ứng với các với các điều kiện thử nghiệm của các điện trở chuyển tiếp theo tiêu chuẩn IEC phiên bản 60214.
Độc lập với các hệ số tải trên cơ sở nhiệt trong tiêu chuẩn IEC 60354, các bộ ĐADT có thể được vận hành ở mức gấp hai lần dòng chuyển nấc tối đa của máy biến áp nếu các bộ ĐADT được lựa chọn theo tiêu chuẩn IEC 60076-1, 60542 và 60214 (dòng chuyển nấc tối đa nhỏ hơn dòng định mức tối đa). Tuy nhiên, vì lý do an toàn nên trong cơ cấu truyền động sẽ có một thiết bị an toàn để ngăn cản quá trình vận hành của cơ cấu truyền động hoặc làm gián đoạn hoạt động của điều áp khi máy biến áp quá tải 1,5 lần dòng chuyển nấc tối đa.

4. Dòng ngắn mạch.
Khả năng chịu đựng của bộ ĐADT với các dòng ngắn mạch như trong tiêu chuẩn IEC phiên bản 60214 phải không được nhỏ hơn dòng ngắn mạch của MBA lắp đặt bộ ĐADT như đề cập trong tiêu chuẩn IEC phiên bản 60076-5 [IEC Publ. 60076-5 1976].
Nói chung bộ ĐADT chỉ có thể chịu đựng dòng ngắn mạch nhưng không thể hoàn thành một hoạt động chuyển mạch trong điều kiện ngắn mạch. Theo tiêu chuẩn IEC phiên bản 60214 giá trị hiệu dụng của dòng ngắn mạch có thể áp dụng cho bộ ĐADT là từ 10 đến 20 lần dòng điện định mức lớn nhất. Giá trị đỉnh ban đầu của dòng điện ngắn mạch bằng 2,5 lần giá trị dòng hiệu dụng.

5. Khả năng cắt.
Độ tin cậy của hệ thống chuyển phụ tải trong bộ ĐADT chủ yếu được quyết định bởi khả năng của hệ thống tiếp điểm chuyển tiếp mạch rẽ để ngắt dòng điện chạy qua trong trình tự chuyển tiếp đã định trước. Điều này phụ thuộc vào các tham số thiết kế đóng vai trò như tốc độ, va đập và vật liệu chuyển tiếp, thiết kế vùng hồ quang và sơ đồ bố trí điện trở chuyển tiếp.
Điều quang trọng nhất cần phải thỏa mãn trong quá trình vận hành chuyển tiếp mạch rẽ là hồ quang tại tiếp điểm chuyển tiếp chính ở phía mở phải được dập tắt trước khi đóng tiếp điểm chuyển tiếp chính của phía đóng. Điều kiện này cần lưu ý khi đánh giá công suất chuyển mạch hay độ an toàn trong quá trình vận hành của công tắt mạch rẽ. Điều quang trọng thứ hai là phải dập hồ quang tại các tiếp điểm chuyển tiếp cho dù nó có thể kéo dài cho đến khi tiếp điểm chuyển mạch chính thức được đóng.
Khả năng ngắt mạch của bộ ĐADT được định nghĩa như là sản phẩm của điện áp bước định mức và dòng định mức chạy qua.
Thông số chuyển mạch của mạng lưới chính và mạng chuyển tiếp trong bộ ĐADT còn phụ thuộc vào phương pháp thực hiện quá trình điều áp và giá trị thuần trở của điện trở chuyển tiếp. Việc điều chỉnh các điện trở chuyển tiếp còn liên quan đến độ tăng nhiệt của điện trở chuyển tiếp, độ bền của các tiếp điểm chia cắt, sự khác biệt về độ hao mòn tiếp điểm giữa quá trình chuyển mạch chính với giới hạn của dòng chuyển mạch và điện áp phục hồi. Tuy nhiên, số lượng các giá tri điện trở chuyển tiếp khác nhau sẽ được giới hạn vì lý do kinh tế.
Ngoài các khía cạnh về thiết kế và vật liệu, độ hao mòn của các tiếp điểm ngắt còn được quyết định bởi điện áp rơi hồ quang, dòng chuyển mạch và thời gian phóng hồ quang. Người ta có thể giả định trong bản thiết kế rằng điện áp rơi hồ quang không phụ thuộc vào dòng chuyển mạch. Điều kiện dập hồ quang trong một nửa sóng thường được thỏa mãn khi điện áp phục hồi phát sinh bằng hoặc nhỏ hơn giá trị đã được xác nhận trong các thí nghiệm điển hình.


6. Số vị trí nấc.

Sự lựa chọn các vị trí nấc làm việc được thực hiện trong dải tiêu chuẩn hóa của nhà sản xuất bộ ĐADT. Tăng dải nấc điều chỉnh thì điện áp chịu đựng của cuộn dây phân nấc cũng tăng lên. Đặc biệt là trong các trường hợp biến áp lò điện hay máy biến áp chỉnh lưu phục vụ cho các thiết bị điện phân thường xuyên cần đến các dải nấc rộng. Khi bộ ĐADT đặt ở cuộn dây với điện áp không đổi, điện áp chịu đựng của cuộn dây phân nấc khi hoạt động hoặc thử nghiệm tại vị trí nhỏ nhất phải được xem xét thận trọng.



Một số bộ chọn nấc (phần dưới).

7. Vấn đề phóng điện của bộ chọn chuyển.
Sự hoạt động của bộ chọn chuyển diễn ra tại vị trí định mức hay đầu cuối của bộ ĐADT. Trong quá trình hoạt động của nó, dòng điện tải không chạy qua cuộn dây phân nấc. Do đó cuộn dây phân nấc tạm thời bị ngắt khỏi cuộn dây chính và điện thế của cuộn dây là tự do. Trong quá trình hoạt động của bộ chọn chuyển xuất hiện sự phóng điện giữa các tiếp điểm đóng và mở, các chịu đựng ở công tắt mở xác định bởi dòng điện lưu thông trước khi các công tắt mở và điện áp (điện áp phục hồi) phát sinh. Nếu các giá trị đạt đến các giới hạn có thể chấp nhận được, thì có nhiều cách khác nhau để khắc phục vấn đề này, ví dụ: sử dụng các bộ đảo chiều kép, các điện trở nối thêm hay khống chế dung lượng giữa các điện thế kế tiếp và dây nhánh.
Phóng điện quyết định các chịu đựng chấp nhận được khi bộ chọn chuyển hoạt động. Thời gian phóng điện chủ yếu dựa vào độ lớn của điện áp phục hồi, độ lớn của dòng ngắt mạch ít quan trọng hơn. Thông số thời gian phóng điện có thể chấp nhận ở một khoảng nửa thời gian đóng cắt của bộ chọn chuyển. Giá trị điện thế phục hồi có thể chấp nhận và dòng ngắt mạch khác với thiết kế của bộ chọn chuyển. Đối với các ứng dụng, các chịu đựng phát sinh tại các công tắt của bộ chọn chuyển cần được tính toán để tránh đoản mạch có thể xảy ra của nhánh dây.
Phóng điện trong các giới hạn chấp nhận được tạo ra một lượng khí nhất định trong một vài phần nghìn lít khi hoạt động. Số lượng khí phụ thuộc vào dòng ngắt mạch và thời gian hồ quang, và có thể bỏ qua so với khí thải ra trong MBA bằng sự lão hóa dầu và cách điện. Thành phần chủ yếu của khí là Hydrogen (H2 : 70% - 75%), acetylen (C2 H2 : 5% - 15%), nitơ (N2 : 5% - 10%), oxy (O2 :2% - 5%) và metan (CH4 : 2% - 4%).

8. Tuổi thọ cơ khí.


Bộ truyền động MR.
Bộ điều áp phải làm việc chắc chắn, lâu dài, hao mòn cơ khí không đáng kể. Độ bền cơ của bộ ĐADT được đánh giá qua thí nghiệm độ bền, sau một triệu lần thao tác cơ khí bộ ĐADT phải ở trong tình trạng bình thường. Thông số cơ khí cần được xem xét nếu số lần hoạt động vượt quá 50 000 lần một năm.Tuổi thọ cơ khí của các loại bộ ĐADT hiện đại nằm trong khoảng từ 1 đến 1,5 triệu lần hoạt động hoặc cao hơn một ít. Kết cấu cơ khí phải cho phép lấy mẫu và thay dầu thường xuyên.

nguồn:   webdien.com

Dòng từ hoá và bão hoà mạch từ


Bạn có thể tưởng tượng có một cuộn dây được quấn bao quanh một lõi thép khép kín. Khi đó có thể coi (bỏ qua các tổn hao) dòng chạy qua cuộn dây này chính là dòng từ hóa lõi thép: nó tạo ra một từ thông khép kín trong lõi thép. Một cách nôm na:lõi thép là vô vàn các nam châm vĩnh cửu nhỏ li ti. Bình thường thì các nam châm này định hướng lung tung và từ trường của chúng khử lẫn nhau nên không có gì xảy ra. Nhưng nếu ta cho nó vào trong lòng một cuộn dây thì khi có dòng chạy qua cuộn dây các nam châm này được định hướng lại theo cùng một hướng.

Giáo trình AutoCad 2007


Sơ lược:
  1. Mở đầu Giới thiệu chung
  2. Các lệnh về File
  3. Hệ toạ độ và các phương thức truy bắt điểm
  4. Các thiết lập bản vẽ cơ bản
  5. Các Lệnh vẽ cơ bản
  6. Các lệnh hiệu chỉnh căn bản
  7. Các lệnh hiệu chỉnh tạo hình
  8. Các Lệnh biến đổi và sao chép hình
  9. Quản lý bản vẽ theo lớp, đường nét và màu
  10. Hình cắt mặt cắt và vẽ ký hiệu vật liệu
  11. Nhập và hiệu chỉnh văn bản
  12. Ghi và hiệu chỉnh kích thước
  13. Tạo khối và ghi khối.
  14. Bảng phím tắt một số lệnh trong AutoCad
  15. Bài tập
Download here
nguồn thuviendientu.org

Kí hiệu bảng số xe



1./ Màu xanh chữ trắng là biển xe của các cơ quan hành chính sự nghiệp:
- Trực thuộc chính phủ thì là biển xanh 80
- Các tỉnh thành thì theo số của các tỉnh thành tương ứng (xem phần dưới)


2./ Màu đỏ: Cấp cho xe quân đội, xe của các doanh nghiệp quân đội là biển 80 màu trắng.
Biển số quân đội với 2 chữ cái đầu tiên là viết tắt của:
A=Quân đoàn, ví dụ AA là Quân đoàn 1, AB là Quân đoàn 2
B=Bộ tư lệnh, ví dụ BT là BTLtăng thiết giáp, BD là BTLđặc công, BH là BTLhóa học.
H=Học viện

K=Quân khu, ví dụ KA Quân khu 1, KB quân khu 2, KT quân khu Thủ đô T=Tổng cục, TC tổng cục chính trị, TH Tổng cục Hậu cần
Q=Quân chủng, QP qc phòng không, QK quân chủng không quân

3./ Màu vàng: Cấp cho xe thuộc bộ tư lệnh biên phòng

4./ Màu trắng với 2 chữ và năm số là biển cấp cho các đối tượng có yếu tố nước ngoài.
NG là xe ngoại giao
NN là xe của các tổ chức, cá nhân nước ngoài
3 số ở giũa là mã quốc gia, 2 số tiếp theo là số thứ tự
xe số 80 NG xxx-yy là biển cấp cho các đại sứ quán, thêm gạch đỏ ở giữa và 2 số cuối là 01 là biển xe của tổng lãnh sự (bất khả xâm phạm) riêng biển này khi thay xe thì giữ lại biển để lắp cho xe mới.

Màu trắng cấp cho tư nhân và doanh nghiệp, 2 số đầu theo thứ tự các tỉnh, 4 số cuối là số thứ tự cấp ngẫu nhiên nhưng có thể “xin” nếu thích số đẹp


Quy định biển số của 64 tỉnh thành:


11 – Cao Bằng
12 – Lạng Sơn
13 – Bắc Ninh và Bắc Giang (trước kia là tỉnh Hà Bắc, hiện đã bỏ nhưng còn một số xe cũ vẫn để biển này)
14 – Quảng Ninh
15,16 – Hải Phòng
17 – Thái Bình
18 – Nam Định
19 – Phú Thọ
20 – Thái Nguyên
21 – Yên Bái
22 – Tuyên Quang
23 – Hà Giang
24 – Lào Cai
25 – Lai Châu
26 – Sơn La
27 – Điện Biên
28 – Hòa Bình
29,30,31,32 – Hà Nội
33 – Hà Tây
34 – Hải Dương
35 – Ninh Bình
36 – Thanh Hóa
37 – Nghệ An
38 – Hà Tĩnh
43 – Đà Nẵng
47 – Đắc Lắc
48 – Đắc Nông
49 – Lâm Đồng
50 đến 59 – TP. Hồ Chí Minh
60 – Đồng Nai
61 – Bình Dương
62 – Long An
63 – Tiền Giang
64 – Vĩnh Long
65 – Cần Thơ
66 – Đồng Tháp
67 – An Giang
68 – Kiên Giang
69 – Cà Mau
70 – Tây Ninh
71 – Bến Tre
72 – Bà Rịa – Vũng Tàu
73 – Quảng Bình
74 – Quảng Trị
75 – Huế
76 – Quảng Ngãi
77 – Bình Định
78 – Phú Yên
79 – Khánh Hòa
80 – Các đơn vị kinh tế thuộc TW (hàng không)
81 – Gia Lai
82 – KonTum
83 – Sóc Trăng
84 – Trà Vinh
85 – Ninh Thuận
86 – Bình Thuận
88 – Vĩnh Phúc
89 – Hưng Yên
90 – Hà Nam
92 – Quảng Nam
93 – Bình Phước
94 – Bạc Liêu
95 – Hậu Giang
97 – Bắc Cạn
98 – Bắc Giang
99 – Bắc Ninh


ĐỐI VỚI TP.HCM


A: Q.1 (cũ)
B: Q.3 (cũ)
C: Q.4 (cũ)
D: Q.10 (cũ)
E: Nhà Bè
T: Q1
F: Q3
Z: chẵn là Q4; lẻ là Q7
H: Q5
K: Q6
L: Q8
M: Q11
N: Bình Chánh
P: Tân Bình
R: Phú Nhuận
S: Bình Thạnh
U: Q10
V: Gò Vâp
X: Thủ Đức, Q2,Q9
Y: Q12, Hóc Môn và Củ Chi




Để dễ nhớ có thể học thuộc bài thơ sau:


Cao Bằng _ 11 chẳng sai ,
Lạng Sơn Tây Bắc 12 cận kề
13 Hà Bắc mời về ,
Quảng Ninh 14 bốn bề là Than .
15 , 16 cùng mang .
Hải Phòng đất Bắc chứa chan nghĩa tình.
17 vùng đất Thái Bình .
18 Nam Định quê mình đẹp xinh .
Phú Thọ 19 Thành Kinh Lạc Hồng .
Thái Nguyên Sunfat , gang ,đồng ,
Đôi mươi ( 20 ) dễ nhớ trong lòng chúng ta .
Yên Bái 21 ghé qua .
Tuyên Quang _ Tây Bắc số là 22
Hà Giang rồi đến Lào Cai ,
23 , 24 sánh vai láng giềng .
Lai Châu , Sơn La vùng biên ,( giới )
25 , 26 số liền kề nhau .
27 lịch sử khắc sâu ,
Đánh tan xâm lược công đầu Điện Biên .
28 Hòa Bình ấm êm ,
29 Hà Nội liền liền 32 .
33 là đất Hà Tây .
Tiếp theo 34 đất này Hải Dương .
Ninh Bình vùng đất thân thương ,
35 là số đi đường cho dân .
Thanh Hóa 36 cũng gần .
37 , 38 tình thân ,
Nghệ An , Hà Tĩnh ta cần khắc ghi .
43 Đà Nẵng khó gì .
47 Đắc Lắc _ trường kỳ Tây Nguyên .
Lâm Đồng 49 thần tiên .
50 Thành Phố tiếp liền 60 .( TPHCM 50 - 59 )
Đồng Nai số 6 lần 10 ( 60 ).
Bình Dương 61 tách rời mới ra .
62 là đất không xa ,
Long An _ Bến Lức khúc ca lúa vàng .
63 màu mỡ Tiền Giang .
Vĩnh Long 64 ngày càng đẹp tươi .
Cần Thơ lúa gạo xin mời .
65 là số của người Cần Thơ .
Đồng Tháp 66 trước giờ .
67 kế tiếp là bờ An Giang .
68 biên giới Kiên Giang
Cà Mau 69 rộn ràng U Minh.
70 là số Tây Ninh .
Xứ dừa 71 yên bình Bến Tre .
72_ Vũng Tàu số xe .
73 Xứ QUẢNG vùng quê thanh BÌNH ( Quảng Bình ) .
74 Quãng Trị nghĩa tình .
Cố đô nước Việt Nam mình 75 .
76_Quảng Ngãi đến thăm .
Bình Định 77 âm thầm vùng lên.
78 biển số Phú Yên .
Khánh Hòa 79 núi liền biển xanh .
81_ rừng núi vây quanh .
Gia Lai phố núi , thị thành Playku .
Kon tum năm tháng mây mù ,
82 dễ nhớ mặc dù mới ra .( tách ra của GiaLai_Kontum )
Sóc Trăng có số 83 .
84 kế đó chính là Trà Vinh .
85 Ninh Thuận hữu tình .
86 Bình Thuận yên bình gần bên .
Vĩnh Phúc 88 vùng lên .
Hưng Yên 89 nhớ tên nhãn lồng .
Quảng Nam đất thép thành đồng ,
92 số mới tiếp vòng thời gian .
93 đất mới khai hoang ,
Chính là Bình Phước bạt ngàn cao su .
Bạc Liêu mang số 94 .
Bắc Kạn 97 có từ rất lâu .
Bắc Giang 98_vùng sâu .
Bắc Ninh 99 những câu Quan , hò

Cấp bảo vệ IP

IP (Ingress Protection) - cấp bảo vệ, được phát triển bởi Ủy ban Châu Âu cho các chuẩn về kỹ thuật điện (CENELEC), Cấp độ IP thông thường có 2 hoặc 3 chữ số đi kèm sau: 
  • Số thứ nhất: Bảo vệ khỏi các vật liệu, đối tượng rắn (va đập,…) 
  • Số thứ hai: Bảo vệ khỏi các chất lỏng (nước,…) 
  • Số thứ ba: Bảo vệ khỏi các tác động cơ khí 

Ví dụ: Với IP 54, 5 là chỉ số thứ nhất đặc trưng cho bảo vệ khỏi các vật liệu rắn, 4 là chỉ số thứ 2 đặc trưng cho việc bảo vệ khỏi các chất lỏng. 

Kẹp Quai - Bail Clamp


Dùng để nối rẽ nhánh đồng - nhôm
Có 3 loại phổ biến:
  • Kẹp quai loại xiết bằng buolon
  • Kẹp quai loại ép bằng kềm thuỷ lực
  • Kẹp quai loại xiết bằng vòng ty




Kẹp quai loại xiết bằng vòng ty
Kẹp quai loại xiết bằng buolon

Kẹp quai loại ép bằng kềm thuỷ lực

LA - Lightning Arrester - chống sét van

Chống sét van - LA (Lightning Arrester, Surge Arrester (Europe)) là thiết bị sử dụng trong hệ thống điện (có cấp điện áp trên 1000V) để bảo vệ lớp cách điện và dây dẫn tránh sự tác động của sét. Chống sét van điển hình có một đầu nối với đường dây, đầu còn lại nối với đất. Khi có tia sét hoặc quá điện áp do thao tác (Switching surge) lan truyền dọc đường dây đến bộ chống sét, dòng điện chuyển hướng theo bộ chống sét, đi xuống đất.

Chống sét van thường được dùng bảo vệ cho trạm biến áp,và các thiết bị quan trọng trên lưới điện, được lắp đặt song song với thiết bị.
Chống sét van

Một số loại chống sét van (click vào hình để xem kích thước lớn hơn)
Cấu tạo chống sét van (click vào hình để xem kích thước lớn hơn)

Các đĩa Zno - MOV Disk (metal oxide varistor) là chất bán dẫn (semiconductor) rất nhạy với điện áp. Tại điện áp định mức, các đĩa này là chất cách điện vì thế không cho dòng điện đi qua. Nhưng ở điện áp cao như sét đánh , nó trở thành dẫn điện.

Hầu hết các thiết bị chống sét đều có chứa một thành phần là MOV. Nó được sử dụng trong các thiết bị chống sét trên đường nguồn và trong một số thiết bị chống sét trên đường tín hiệu. MOV đã được chứng minh là một thành phần có độ tin cậy và hiệu quả cao về chống sét trong suốt nhiều năm đã qua.
MOV-Metal Oxide Varistor: là linh kiện được sử dụng nhiều nhất, nó không phải phân tán năng lượng sét hoặc xung nhiễu mà hấp thụ chúng
  • Ưu: Xử lý dòng điện tốt, đáp ứng nhanh (<1µs), không phụ thuộc tải
  • Khuyết: phụ thuộc tần số và chất lượng giảm theo thời gian
MOV là nguyên nhân làm suy giảm nhanh chóng cường độ quá áp xảy ra. Và tổng mức suy giảm này phụ thuộc vào đường kính của MOV và cường độ dòng sét. Ví dụ, một MOV có đường kính 40mm có khả năng chịu được cường độ dòng sét:

Cường độ dòng sét
 Số lần chịu được
40 KA
1
15 KA
10
5 KA
100
2 KA
1.000
500 A
10.000
200 A
100.000


Suy Ngẫm


FCO và LBFCO - Cầu chì tự rơi


FCO - Fuse Cutout hay Cut-out fuse - là thiết bị bảo vệ cho mạng trung thế, được phối hợp giữa một cầu chì và dao cắt, được sử dụng ở các đường dây trên không và nhánh rẽ để bảo vệ các trạm biến áp phân phối khỏi sự cố quá dòng và quá tải. Nguyên nhân gây nên quá dòng do sự cố trong máy biến áp hay mạng điện của khách hàng sẽ làm dây chì nóng chảy, ngắt máy biến áp ra khỏi đường dây.  FCO có thể được tháo xuống bằng tay thông qua sào cách điện (hot stick) khi người thao tác đứng ở mặt đất.
LBFCO - Load Break Fuse Cutout - là một dạng FCO có thêm thiết bị dập hồ quang, có thể đóng/cắt có tải. 

Thao tác đóng điện bằng sào cách điện (hot stick)

Một FCO bao gồm 3 thành phần chính sau:
- Khung đỡ (The cutout body) - có dạng hình chữ "C", có nhiệm vụ nâng đỡ ống chì và sứ cách điện.
- Ống chì (Fuse holder hay còn gọi là fuse tube hoặc door), có thể hoán đổi vị trí cho nhau, và làm việc như một dao cắt đơn giản. Khi có sự cố, (dây chì nóng chảy) hoặc FCO hoạt động như một dao cắt bị ngắt, phần ống chì sẽ rơi xuống, và được treo "lủng lẳng" trên khung đỡ. Người vận hành có thể dễ dàng phát hiện và khắc phục sự cố. Tính năng này cũng là một tín hiệu bảo đảm rằng mạng đã được cách ly hoàn toàn, giúp cho người thợ khi sửa điện có thể quan sát bằng mắt và yên tâm làm việc.
- Dây chì (Fuse element,  hay fuse link)

Cấu tạo FCO (click vào hình để xem kích thước lớn hơn)
Một số hình ảnh FCO
LBFCO và FCO của hãng Tuấn Ân - cách điện bằng sứ

LBFCO và FCO của hãng Tuấn Ân - cách điện bằng Polyme


Dụng cụ đóng/ngắt FCO


FCO của hãng ABB
 


FCO của hãng Zhejiang Fuerte Electrical Apparatus Co., Ltd.


FCO bị "rơi" (Blow)

 VIDEO THAO TÁC ĐÓNG FCO (EVN) - SƯU TẦM

Hướng dẫn thi công hộp nối cap 72kV 3M ClodShink




Hướng dẫn đấu nối cầu cáp trung thế 3M




Kỹ thuật đấu nối đầu cáp 3M - Co Nguội




Revo Uninstaller


Phần mềm Revo Uninstaller có thể gỡ bỏ tận gốc các phần mềm khác được cài trên máy tính.

Download

Một số mẫu bìa đẹp


Một số mẫu bìa đẹp dùng cho tiểu luận, đồ án môn học, báo cáo...
Download

http://www.mediafire.com/download/12aw6xfui7vd61f/MAUBIADEP1.rar

Recloser - Máy cắt tự đóng lại


Phần lớn sự cố trong hệ thống phân phối điện là sự cố thoáng qua. Chính vì vậy, để tăng cường độ liên tục cung cấp điện cho phụ tải, thay vì sử dụng máy cắt người ta sử dụng máy cắt thường đóng lại (Recloser). Thực chất máy cắt tự đóng lại là máy cắt có kèm thêm bộ điều khiển cho phép người ta lập trình số lần đóng cắt lập đi lập lại theo yêu cầu đặt trước. Đồng thời đo và lưu trữ 1 số đại lượng cần thiết như : U, I, P, thời điểm xuất hiện ngắn mạch. . .


Khi xuất hiện ngắn mạch Recloser mở ra (cắt mạch) sau 1 thời gian t1 nó sẽ tự đóng mạch. Nếu sự cố còn tồn tại nó sẽ cắt mạch, sau thời gian t2 Recloser sẽ tự đóng lại mạch. Và nếu sự cố vẫn còn tồn tại nó sẽ lại cắt mạch và sau thời gian t3 nó sẽ tự đóng lại mạch 1 lần nữa và nếu sự cố vẫn còn tồn tại thì lần này Recloser sẽ cắt mạch luôn. Số lần và thời gian đóng cắt do người sử dụng lập trình.

Recloser thường được trang bị cho những đường trục chính công suất lớn và đường dây dài đắt tiền.
Recloser là một thiết bị đóng cắt tự động hoạt động tin cậy và kinh tế dùng cho lưới phân phối đến cấp điện áp 38KV. Kết cấu gọn nhẹ, dễ lắp đặt, vận hành. Đối với lưới phân phối Recloser là thiết bị hợp bộ gồm các bộ phận sau:
  • Bảo vệ quá dòng
  • Tự đóng lại (TĐL)
  • Thiết bị đóng cắt
  • Điều khiển bằng tay

Vị trí đặt:
Recloser có thể đặt bất kỳ nơi nào trên hệ thống mà thông số định mức của nó thỏa mãn các đòi hỏi của hệ thống. Những vị trí hợp lý có thể là:
  • Đặt tại trạm như thiết bị bảo vệ chính của hệ thống
  • Đặt trên đường dây trục chính nhưng cách xa trạm để phân đoạn các đường dây dài, như vậy ngăn chặn sự ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống khi có sự cố cách xa nguồn.
  • Đặt trên các nhánh rẽ của đường dây trục chính nhằm bảo vệ đường dây trục chính khỏi bị ảnh hưởng do các sự cố trên nhánh rẽ.
Nguồn: webdien.com

Một số hình ảnh Recloser:
Location: Corporation Street, Durham, North Carolina.

Recloser hãng Siemens

Recloser và tủ điều khiển (Siemens)




GT Kỹ Thuật Chiếu Sáng - Vũ Hùng Cường


Giáo trình Kỹ thuật chiếu sáng
Trường ĐH khoa học tự nhiên
Tác giả: Vũ Hùng Cường
Download



DoPDF



Phần mềm tạo một máy in ảo cho máy tính , xuất ra file định dạng pdf. Sau khi cài đặt, nhấn nút Print (hoặc tổ hợp phím Ctrl+P) để mở hộp thoại Printer. Chọn máy in là doPDF....
Download

Fill PDF


Phần mềm này cho phép tách file pdf , hoặc ghép nhiều file pdf với nhau. ngoài ra có thể chuyển từ file pdf sang file ảnh (ngược lại)...
Download

Phần mềm đọc file PRC

Download video từ Youtube

Giáo trình Phương Pháp Giảng Dạy


Trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM
Chủ Biên: TS. Nguyễn Văn Tuấn
Download

Vận hành tủ trung thế EATON 24kV



>

Cấu Tạo Tủ Trung Thế EATON (FLASH)




Giới Thiệu


Thân chào các bạn đến với trang blog cá nhân của Nguyễn Phát Lợi.

Trang blog được thành lập với mục đích tổng hợp các thông tin từ internet nhằm làm tư liệu cá nhân,phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu, đồng thời tôi cũng muốn chia sẻ thông tin với bạn bè, sinh viên và người dùng internet. Nếu có khiếu nại về vấn đề bản quyền bài viết, vui lòng liên hệ qua email: nguyenphatloi@gmail.com Xin chân thành cám ơn